PDA

View Full Version : Hình ảnh và tiểu sử của tướng lĩnh Quân Đội Nhân Dân Việt Nam



JeryPhu
10-10-2012, 01:21 PM
Thiếu tướng Nguyễn Sơn, lưỡng quốc tướng quân


http://img372.imageshack.us/img372/9019/hongthuy2gx6.th.jpg

Thiếu tướng Nguyễn Sơn (01/10/1908 – 21/10/1956), nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu IV Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Giám đốc Toà soạn “Tạp chí Huấn luyện Chiến đấu” Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Huân Chương Quân công hạng Nhì của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Huân chương Bát nhất hạng Nhất, Huân chương Giải phóng hạng Nhất của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Có tượng đồng đặt tại Bảo tàng Quân đội Nhân dân Việt Nam (Hà Nội) và Bảo tàng Giải phóng quân Trung Quốc (Bắc Kinh). Tại Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có 2 con đường mang tên ông - Nguyễn Sơn - viên tướng duy nhất trên thế giới làm tướng của 2 quốc gia.

“Tướng quân Hồng Thủy đã có cống hiến rất lớn cho cách mạng Trung Quốc..., nhân dân Trung Hoa mãi mãi nhớ ơn” (Nguyên Soái Bành Đức Hoài, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc)

“- Không chính xác! Đồng chí ấy tham gia quân đội từ thời kỳ Hoàng Phố, liệu xem có thể sửa thành tướng cấp quân đoàn chính quy được không?...” (Chủ tịch Mao Trạch Đông)

“Hồng Thủy quả là một con ngựa bất kham đấy, điều khiển không tốt, không cẩn thận, đồng chí ấy sẽ... đá người khác đấy!” (Chủ tịch Mao Trạch Đông)

‘’Nguyễn Sơn là một chiến sĩ cộng sản kiên định, một con người có khí phách, có chút ngang tàng, có khả năng về chính trị, về tuyên truyền, về văn nghệ. Anh lại có phong cách rất riêng - rất là Nguyễn Sơn. Anh coi trọng bạn bè, coi trọng con người, coi trọng bồi dưỡng đội ngũ kế cận.

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam cũng như trong lòng mỗi người chúng ta, anh vẫn còn sống mãi với hình ảnh một người cộng sản kiên định, một người bạn, người đồng chí, một người chiến hữu thân thiết và rất mực chân thành, suốt đời phục vụ sự nghiệp cách mạng của nước ta và nước bạn.’’ (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)
Thiếu tướng Nguyễn Sơn tên thật là Vũ Nguyên Bác, bí danh Lý Anh Tự, Hồng Thủy, quê tại làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

Nguyễn Sơn rời quê hương sang Pháp năm 1923. Năm 1925, ông tham gia Việt Nam thanh niên cách mạng ông hội, được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang Trung Quốc học Trường Võ bị Hoàng Phố.

Tháng 8/1927, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 12 năm 1927, ông tham gia khởi nghĩa ở Quảng Châu.

Năm 1929, ông tham gia Hồng quân Công nông Trung Quốc, lần lượt giữ các chức vụ; Chính trị viên Đại đội, Chính uỷ Trung đoàn, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 34, Quân đoàn 12.

Tháng 1/1934, ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản nước Cộng hoà Xô viết Trung Hoa, Uỷ viên Chính phủ Dân chủ Công nông Xô Viết Trung ương.

Từ năm 1934 - 1936, ông tham gia “Vạn lý trường chinh”. Sau đó là Tổng Biên tập báo “Kháng địch” của Biên khu Tấn Sát Ký.

Trong cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung Quốc nhằm rút lui, bảo toàn lực lượng, lập căn cứ mới thuận lợi kéo dài hơn một năm, trải dài hai vạn năm ngàn dặm. Lúc đi 72 vạn người, đến nơi còn 7 vạn 2, phải vượt qua núi tuyết, vượt qua đồng cỏ mênh mông hoang vắng. Vậy mà Nguyễn Sơn đi tới 3 lần trên con đường ấy để tiền trạm và giải quyết thương bệnh binh. Gần 2 năm trời hành quân có lúc đi môt mình, lạc đường đến vùng dân tộc thiểu số ông phải giả câm xin chăn dê để có cơm ăn, dưỡng sức tìm đường. Về tới Diên An gầy ốm như một bộ xương, quần áo rách không ai nhận ra.

Trong khoảng thời gian ấy ông bị khai trừ Đảng 3 lần vì đấu tranh với những điều sai trái và bị vu cáo là phản động, là gián điệp quốc tế, có lúc suýt bị chặt đầu. Nhưng cấp trên nhận ra sai trái lại khôi phục Đảng tịch cho ông.

Năm 1938, ông là giáo viên chính trị Trường Cán bộ quân chính kháng Nhật, Biên khu Tấn Sát Ký.

Tháng 8/1945, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông về nước tham gia lực lượng vũ trang. Tháng 10-1945, Chính phủ quyết định thành lập Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam. Trên thực tế lúc này Uỷ ban kháng chiến Miền Nam mới chỉ đạo được ở các tỉnh Nam Trung Bộ, Nam Bộ vẫn còn do xứ uỷ Nam Bộ lãnh đạo. Uỷ ban kháng chiến miền Nam do Tướng Nguyễn Sơn được Trung ương phân công làm chủ tịch. Vào cuối tháng 11-1945, trước khi vào Nam công tác, ông đã cùng Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái bàn bạc việc thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng hai trường quân sự (Một trường ở miền Bắc và một trường ở miền Nam). UBKC miền Nam Việt Nam lúc ấy được Trung ương chỉ định ông Hoàng Quốc Việt uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng làm chính trị uỷ viên; tướng Nguyễn Sơn làm chủ tịch kiêm Hiệu trưởng trường Trung học lục quân Quảng Ngãi; tướng Nguyễn Chánh làm uỷ viên UBKC miền Nam Việt Nam đồng thời là uỷ viên Trưởng quốc phòng Trung bộ (chủ yếu là các tỉnh phía Nam Trung Bộ), sau này gọi là Liên khu 5.

Tháng 12/1945, thực dân Pháp từ phía Đông Nam Bộ đã đánh lấn lần lượt chiếm các vùng Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai thượng, Daklak, rồi đến Nha Trang, Khánh Hoà và cả Tây Nguyên. Quân đội ta còn non trẻ lại phải đương đầu với một lực lượng mạnh của quân lê dương Pháp, cộng với hàng nghìn quân Nhật thiện chiến. Tuy vậy quân ta vẫn cương quyết chống cự, không cho chúng lấn ra Phú Yên và ở Tây Nguyên, chúng chỉ có thể lập căn cứ An Khê, phía ngoài Pleiku.

Tướng Nguyễn Sơn đã cùng với UBKCMN chủ trương tập trung lực lượng đánh sâu vào vùng địch hậu ở Khánh Hoà, đồng thời tăng cường cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cho các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận... tăng cường đánh địch. Thế trận ta hoàn toàn chủ động, nhất là sau khi giặc Pháp phản bội hiệp định sơ bộ 6/3/1946. Tháng 4/1946, Nguyễn Sơn cho mở lớp bổ túc cán bộ Trung đoàn, đồng thời xúc tiến chiêu sinh, mở trường Trung học Quân sự tại Quảng Ngãi do ông làm hiệu trưởng khai giảng vào ngày 19/5/1946.

Tháng 1/1947, ông được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu.

Tháng 7/1947, ông là Khu trưởng kiêm Chính uỷ Liên khu 4. Ngày 19/ 1/ 1948, ông được Chủ tịch Chính phủ phong quân hàm thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội theo sắc lệnh số 111/SL.

Tháng 10 năm 1950, ông trở lại Trung Quốc, phụ trách khoa Việt Nam bán Mặt trận thống nhất Trung ương và học tại Học viện Quân sự Nam Ninh. Năm 1954, ông tốt nghiệp loại xuất sắc, được cử đến Bộ Tổng Giám Huấn luyện Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc giữ chức Phó cục trưởng Cục Điều lệnh. Sau đó được bổ nhiệm Giám đốc Toà soạn “Tạp chí Huấn luyện Chiến đấu”.

Ngày 27/9/1955, ông được Nhà nước Trung Quốc phong quân hàm thiếu tướng. Ông là vị tướng duy nhất của Trung Quốc là người nước ngoài.

Năm 1956, do bệnh tình trầm trọng, ông xin về nước và đã từ trần ngày 21/10/1956. Lễ tang được Nhà nước Việt Nam tổ chức trọng thể và an táng tại nghĩa trang Mai Dịch.

Ông là tác giả của nhiều tác phẩm và bài viết về quân sự và văn học bằng tiếng Việt và tiếng Trung Quốc.

Tướng Nguyễn Sơn là một người có tài diễn thuyết và phát biểu trước đám đông. Lý luận của ông có tình, có lí lại không cứng nhắc rất dễ đi vào lòng người. Chính nhờ tài năng này đã giúp ông hoàn thành xuất sắc công tác dân vận suốt cuộc Vạn lý trường chinh ở Trung quốc rồi trong quãng thời gian làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam rồi Tư lệnh quân khu IV.

Tướng Nguyễn Sơn là người có lòng nhân ái, thương yêu cán bộ, chiến sĩ dưới quyền của mình; chan hoà mật thiết với đồng bào, cả những đồng bào tôn giáo luôn tỏ thái độ thân ái, đoàn kết và cởi mở. Các vị cao tăng, linh mục, tu sĩ đều tỏ lòng quý mến. Ông rất giản dị, với bộ quần áo chàm, may theo kiểu áo người dân tộc thiểu số miềm Bắc, miệng luôn ngậm tẩu thuốc, y hệt như người nông dân bình thường, không ai biết đó là vị tướng.

Tướng Nguyễn Sơn còn là một người rất yêu và am tường văn hóa – nghệ thuật, đồng thời biết trân trọng các văn nghệ sĩ. chính Nguyễn Sơn là ngưòi bênh vực, bảo vệ, cho khôi phục các hình thức sân khấu tuồng, chèo vì sau Cách mạng tháng Tám bị những người hữu khuynh toan dẹp bỏ. Ông chi tiền để nhân dân Thanh Hóa dựng lại Hội Múa dân gian cổ truyền. Ông mời Đinh Ngọc Liên - Quản Liên vốn chỉ huy đội kèn Bảo an của Bảo Đại-trao nhiệm vụ khôi phục lại đội kèn, bây giờ là đoàn quân nhạc của quân đội ta. Ông cũng rất khuyến khích phát triển các vốn cổ văn hóa nghệ thuật truyền thống: tuồng, chèo, cải lương, dân ca... Chuyện ông tướng quân sự mà giảng về kịch Lôi Vũ suốt mấy buổi liền vẫn hấp dẫn người nghe. Đến người dịch Lôi Vũ từ tiếng Trung qua Việt ngữ – Đặng Thai Mai – nghe xong cũng phải thốt lên lời khâm phục sự uyên thâm văn học của Nguyễn Sơn.

Tướng Nguyễn Sơn luôn có cái nhìn, cách nghĩ vô cùng nhân văn. Ông không thích những thứ cứng nhắc, khuôn mẫu, gò ép con người…điều này thể hiện rõ qua cái cách mà ông bảo vệ truyện Kiều. Ông phê phán những Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Ngô Đức Kế... đã đành. Ông còn làm giật thót người, tái mặt cả những Hoài Thanh, Đào Duy Anh, Trương Tửu... và cả cụ Huỳnh Thúc Kháng. Phê rằng nghiên cứu Kiều mà đứng trên lập trường chính trị, lấy quan điểm con người thời nay để chê bai Nguyễn Du là “tiêu cực”, là “định mệnh”, là “có hậu” một cách gượng gạo v.v..., thì thật là phi lịch sử... Tướng Nguyễn Sơn không thích nghe những như: “Bao chiến sĩ anh hùng lạnh lùng vung gươm ra sa trường...” hay “Không quân Việt Nam lướt bay rầm trời... bom đạn gầm réo”... bởi theo ông thì “Nó đế quốc quá!”.

Là một người tham gia Việt Nam thanh niên Cách mạng hôi từ rất sớm, lại tham gia cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung quốc nghĩa là ông là một người Cộng sản thực thụ. Nhưng qua những gì ông thể hiện thì ông chỉ là một người chiến đấu giành độc lập, hòa bình cho Tổ quốc, chống lại chiến tranh và xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc. Với ông Tổ quốc là trên hết.




Trung tướng Lê Quang Đạo, vị chủ tịch quốc hội là tướng trong Quân đội



http://img117.imageshack.us/img117/2199/trungtuonglequangdaorz4.jpg

Trung tướng Lê Quang Đạo (8/8/1921 – 24/7/1999), nguyên Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng (truy tặng 2003), Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang Nhất – Nhì – Ba, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Huân chương Itxala (Itxala: Nhân dân) của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

"Yêu anh từ lần gặp đầu tiên. Người ấy đã mang trong mình một sức mạnh làm tôi tin tưởng gửi gắm cả cuộc đời" (Nhà văn Nguyệt Tú, vợ Trung tướng Lê Quang Đạo).

‘’Anh Lê Quang Đạo có đức tính thật quý báu, rất hiếm có của một cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng và của quân đội mà không phải nhiều người đều có được. Đức tính quý báu ấy của anh có sức cảm hoá lòng người mà bất kỳ ai, dù chỉ được một lần gặp anh cũng đều có được cái cảm nhận sâu sắc ấy.’’ (Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên).

“Không có sự lựa chọn nào tốt hơn, un choix heureux (một sự chọn lựa thích hợp)” ( Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, nói khi Trung tướng Lê Quang Đạo được đề xuất giữ trách nhiệm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)
Trung tướng Lê Quang Đạo tên thật là Nguyễn Đức Nguyện quê tại xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ngoài ra ông còn các bí danh sau đây : Nho Mẫn, Minh, Miện, Đăng, Trần Hoạt…


Năm 1938, ông tham gia phong trào thanh niên dân chủ ở Hà Nội. Năm 1939, ông tham gia phong trào thanh niên Phản đế Đông Dương, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1940.

Từ năm 1940-1942, ông là Bí thư chi bộ xã Đình Bảng, Uỷ viên Ban cán sự phủ Từ Sơn, Uỷ viên Ban Cán sự tỉnh Bắc Ninh, Bí thư Ban Cán sự tỉnh Bắc Ninh, Bí thư Ban Cán sự tỉnh Phúc Yên rồi làm Xứ uỷ viên Xứ uỷ Bắc kỳ.

Từ năm 1943 đến tháng 5/1945, ông là Bí thư Ban Cán sự Hà Nội, Uỷ viên Thường vụ Xứ uỷ Bắc kỳ, phụ trách tờ báo “Quyết thắng” và các lớp huấn luyện Việt minh ở Chiến khu Hoàng Hoa Thám.

Tháng 8/1945, ông là Chính trị viên Chi đội Giải phóng quân tỉnh Bắc Giang, tham gia lãnh đạo tổng khởi nghĩa ở Bắc Giang.

Từ cách mạng Tháng Tám năm 1945-1948, ông giữ các chức vụ: Bí thư thành uỷ Hải Phòng, Hà Nội, Phó Bí thư Khu uỷ đặc biệt Hà Nội Xứ uỷ viên Bắc kỳ, Bí thư Liên tỉnh uỷ Hà Nội – Hà Đông, Uỷ viên thường vụ Liên khu uỷ Liên khu III, phụ trách công tác tuyên huấn.

Năm 1949, ông là Phó trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Đảng.

Từ năm 1950-1976, ông công tác trong Quân đội nhân dân Việt Nam và được giao nhiều trọng trách: Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Phó Chủ nhiệm Chính trị Chiến dịch Điện Biên Phủ, Phó trưởng đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Uỷ ban Liên hiệp đình chiến Việt Pháp, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào, Bí thư Đảng uỷ và Chính uỷ Mặt trận giải phóng Quảng Trị.

Năm 1960, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, ông được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Uỷ viên Quân uỷ Trung ương. Năm 1976, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Bí thư Trung ương Đảng. Năm 1978, ông là Phó Bí thư thành uỷ Hà Nội, Chính uỷ Bộ chỉ huy quân sự thành phố Hà Nội.

Năm 1982, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, ông được bầu làm Uỷ viên Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Bí thư Trung ương Đảng, trực tiếp làm Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương.

Từ năm 1983-1987, ông giữ các chức vụ: Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Trung ương Đảng phụ trách công tác dân vận của Đảng, Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Từ năm 1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, ông tiếp tục được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Tháng 6/1987, tại kỳ họp lần thứ nhất khoá VIII, ông được bầu làm Chủ tịch Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.

Tháng 11/1988, tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ III đã bầu ông vào Đoàn Chủ tịch Uỷ Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và là Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Từ tháng 8/1994 đến tháng 7/1999, ông làm Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ( khoá IV).

Một con người ‘‘trắng trẻo, nhỏ nhắn, thư sinh, cặp kính cận to dày’’ như Trung tướng Lê Quang Đạo, nếu không nói ra, ít ai nghĩ rằng ông là một vị tướng. Một vị tướng đã từng tham gia hoạt động cách mạng từ những ngày tiền khởi nghĩa. Một vị tướng đã từng tham gia lãnh đạo Khởi nghĩa giành chính quyền tại Bắc Giang với tư cách là Chính trị viên Chi đội. Và một vị tướng đã từng tham gia chỉ huy Chiến dịch Đường 9 Khe Sanh, Chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Là một người làm công tác Chính trị, một Chính ủy nhưng ông là một người rất uyên bác về Quân sự.




Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, nữ tướng của đội quân tóc dài

Thiếu tướng Nguyễn Thị Định (15/3/1920 – 26/8/1992), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (truy tặng 30/8/1995), nguyên Thiếu tướng Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, 2 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang Nhất – Nhì – Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Giải thưởng Hòa bình Lê-nin, Huân chương Plâya Giron và Huân chương Ana MariaGranajales của Nhà nước Cu-ba.

"Phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị nữ tướng quân như vậy. Thật là vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta" (Chủ tịch Hồ Chí Minh).

"Tôi cảm thấy rất vinh hạnh khi viết thư này gửi thǎm Bà - một người phụ nữ nổi tiếng và có một vai trò quan trọng trong lịch sử thế giới, một tấm gương của người phụ nữ chân chính. Tôi rất sung sướng khi sử dụng cuốn hồi ký của Bà để dạy cho sinh viên nước mình về truyền thống Cách mạng Việt Nam" (Giáo sư sử học Christine Whate trường Đại học Tổng hợp Hawai, trong một lá thư gửi Thiếu tướng Nguyễn Thị Định).

“Sự thực là có chị Ba Định ở Bộ Tư lệnh, nhiều việc cụ thể ở chiến trường đã được làm sáng tỏ. Dưới sự chỉ đạo của anh Nguyễn Chí Thanh ở cương vị Chính ủy, chúng tôi được phân công giúp chị nắm những vấn đề cơ bản về chỉ huy và công tác tham mưu quân đội, cũng như công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang, đồng thời chúng tôi cũng học tập được ở chị nhiều kinh nghiệm quý báu trong lãnh đạo đấu tranh chính trị và trong công tác xây dựng phong trào quần chúng.

Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên về sự thông minh và hiểu biết nhanh chóng của chị về các vấn đề quân sự. Chỉ sau một thời gian không dài, chị đã có nhiều ý kiến đóng góp có giá trị trong việc chỉ huy lực lượng tổng hợp trên chiến trường.

Trong công tác, chị bộc lộ khá rõ sự năng động và tinh thần tích cực, hết mình trong mọi việc. Chị hầu như có mặt trong tất cả các cuộc hội nghị tổng kết về chiến tranh du kích, trong Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua của Miền. Chị đi thăm các sư đoàn, trung đoàn chủ lực, các đơn vị binh chủng không chỉ ở nơi đóng quân mà còn ở mặt trận. Chị quan tâm cụ thể đến việc tổ chức, huấn luyện, tác chiến và cả việc ăn ở, giải trí của chiến sĩ.

Anh em tiếp đón chị với cương vị người chỉ huy, đồng thời như người chị cả thân thương, họ thường gọi chị bằng cái tên “Chị Ba” trìu mến. Anh Nguyễn Chí Thanh có lần nói vui với chị là “Chúng tôi ghen với chị về lòng thương yêu, quý mến của cán bộ, chiến sĩ đối với chị đấy...”. (Thượng tướng Trần Văn Trà)

"Bước vào lán của chị Ba, cái đập vào mắt trước tiên là tấm bản đồ không ảnh toàn miền Nam bằng lụa treo trên vách. Kế đó là chồng sách quân sự. Trên bàn làm việc của chị lúc nào cũng có một quyển đang xem dở. Chị nghiên cứu, chị học ngày, học đêm chiến thuật chiến tranh hiện đại. Nhớ hôm địch tấn công vào căn cứ, Bộ Tư lệnh phải di chuyển đến nơi an toàn, mỗi người ở cách xa nhau trong cự ly một quả bom đìa để hạn chế bom sát thương một lúc hai người. Bên bờ suối hoang vắng, chị vẫn đọc sách...Tôi mời chị đi xem đơn vị diễn tập, chị vui vẻ nhận lời, và tôi đã tổ chức bảo vệ chị đi chu đáo. Chị tham quan diễn tập với cặp mắt và bộ óc của người chỉ huy binh chủng hợp thành. Chị chỉ ra những chỗ cần phải suy nghĩ thêm, khi chiến đấu ở đồng bằng với điều kiện địch chiếm ưu thế tuyệt đối về không quân, pháo binh, xe thiết giáp, đổ bộ trực thăng. Phải công nhận rằng, với bề dày kinh nghiệm lăn lộn đấu tranh nhiều năm qua, chị biết địch biết ta, am hiểu thời tiết, địa hình, chị tiếp thu nghệ thuật tác chiến hiện đại khá nhanh với nhiều hứa hẹn sáng tạo.." (Thiếu tướng Bùi Cát Vũ)

“Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần" (Giáo sư Trần Văn Giàu, trong lời đề tựa cuốn Nhớ chị Ba Định).

Với các chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam Thiếu tướng Nguyễn Thị Định luôn được gọi bằng cái tên trìu mến "Cô Ba Định"

Và trong lòng người dân Việt Nam: "Nǎm 1992 Nguyễn Thị Định qua đời sau một cơn đau tim đột ngột, hầu hết các tỉnh, thành Hội phụ nữ trong cả nước đều lập bàn thờ để tưởng nhớ đến Bà, theo triết lý dân gian: "Sống làm tướng chết thành thần". Nhân dân Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Tây nơi thờ Hai Bà Trưng đã rước bát hương thờ Bà Nguyễn Thị Định về thờ trong khu đền Hai Bà như một vị nhân thần mới. Nhiều địa phương đã đặt tên trường học Nguyễn Thị Định, quỹ hỗ trợ trẻ em nghèo hiếu học mang tên Nguyễn Thị Định". (Theo Phụ nữ Việt Nam)Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân có 10 người con (bà là con út cho nên thường tên thường gọi lúc nhỏ là Út) ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà sinh ra với thể chất yếu đuối, ốm nhom vì hen suyễn.

Đến tuổi đi học, do trường học xa nhà, ở trọ thì tốn kém, bà không được đi học, đành ở nhà học chữ với người anh thứ ba tên là Chẩn. “Người thầy” ấy có ảnh hưởng sâu sắc với cuộc đời cô về nghĩa khí Lục Vân Tiên, về chí hướng đánh Tây, giành độc lập cho đất nước.

Bà tận mắt chứng kiến anh trai tham gia cách mạng, bị bắt, bị đánh đập trong nhà giam ở quận. Bà đứng nhìn, căm thù mà không biết làm gì để cứu anh ra, đành khóc tức tưởi. Từ đó, những câu hỏi về thời cuộc, về cách mạng nảy nở trong đầu bà. Cô hiểu và tin làm cách mạng là việc tốt nhưng là việc rất khó, là con gái chắc không thể làm được. Có thể nói bà đến với Cách mạng trước hết là do sự dìu dắt, hướng dẫn của người anh trai.

Năm 16 tuổi, bà rất đẹp, da trắng, môi đỏ, tóc xoăn, một vẻ đẹp rất đặc biệt. Nhiều gia đình giàu có đánh tiếng dạm hỏi. Tuổi cô thời ấy con gái đã lo lấy chồng nhưng bà không quan tâm đến điều hệ trọng ấy. Bà nói “Nếu lấy chồng, phải là người cách mạng, em mới ưng”.

Đó cũng là năm phong trào dân chủ lên cao. Bà say sưa lắng nghe anh trai và các bạn của anh diễn thuyết, rồi tham gia rải truyền đơn, làm giao liên, lo cơm nước cho các anh, tham gia các hội tương tế ái hữu, cổ động báo “Dân chúng"...

Tháng 10 năm 1938, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Được tổ chức Cách mạng và người anh trai mai mối, bà kết hôn với một người Đồng chí của mình tên là Bích. Nhưng hạnh phúc đến với vợ chồng Út Định chưa bao lâu thì giông tố ập đến. Mới sinh con 3 ngày (đây là người con duy nhất của bà tên là Nguyễn Ngọc Minh, tên thường gọi là On. Sau tập kết ra Bắc học ở trường học sinh miền Nam ở Đông Triều, Quảng Ninh. On mắc bệnh nặng rồi nằm lại nghĩa trang Văn Điển), mật thám đến nhà vây bắt chồng bà rồi sau đó bị kết án 5 năm tù và 5 năm đầy đi biệt xứ. Đây là thời điểm sau Nam kỳ khởi nghĩa 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện.

Ngày 19/7/1940, bà bị mật thám vây bắt và đưa về khám Lá ở Bến Tre cùng với con trai. Sau đó, Thực dân Pháp tuyên bố đưa bà đi giam giữ ở "căng" Bà Rá và buộc bà phải gửi con về nhà khi con bà mới có 7 tháng tuổi. Trước khi đưa chồng bà ra Côn Đảo và bà đi Bà Rá, Pháp đưa cả hai người đến một nhà giam ở Sài Gòn. Tuy nhiên, hai vợ chồng bà không hề biết điều này.

Tại Bà Rá bà bị xếp và nhà B, nơi dành riêng cho tù nữ chính trị, ở đây mọi người gọi bà là Ba Bích (theo tên chồng). Tại đây bà tiếp tục hoạt động và là trung tâm đoàn kết của khu nhà B, trước hết là việc đoàn kết tù nhân nữ nhằm chống lại những trò chọc ghẹo của những tên cò Tây. Bà còn bày thêm kinh nghiệm là bọn quản tù hay chụp nắm tóc phụ nữ trước khi đánh. Vì vậy, chị em nên cài ít kim may vào trong búi tóc, để khi chúng chụp vào đầu tóc chị em, tay bị kim đâm, sẽ bỏ ra ngay. Tới lúc đó, chị em có thì giờ để đối phó...

Tên quan ba nổi tiếng tàn ác, có thú tính thích nhìn thấy máu đổ, thích xui chó béc-giê cắn xé tù nhân cho ra máu lai láng, bắt bà bước ra sân, giơ cao vỏ chai đựng rượu làm đích cho hắn bắn. Hắn vừa muốn khoe tài bắn súng vừa "nắn gân" bà “chuyên xách động nữ tù đấu tranh”.

Nếu bà không chịu bước ra, không giơ cao chai rượu cho hắn nhắm bắn, hắn sẽ có dịp bêu riếu chị là hèn nhát. Còn nếu thể hiện chí khí, viên đạn của tên quan ba có thể cắm vào cơ thể bà.

Bà bình tĩnh bước ra sân rồi giơ cao vỏ chai rượu lên. “Đoàng”. Tiếng súng nổ, vỏ chai vỡ toang. Hắn khoái chí cười khanh khách. Chưa thỏa mãn thú tính, hắn bắt bà tháo chiếc vòng cẩm thạch đang đeo ở tay - kỷ vật chồng chị tặng ngày cưới mà bà rất quý yêu, làm đích cho hắn bắn tiếp.

Quá phẫn uất, bà tháo vòng, ném mạnh vào viên gạch gần đó, làm chiếc vòng vỡ tan. Trước sự bướng bỉnh, gan dạ của bà, tên quan ba hơi bất ngờ. Lúc ấy, hắn không làm gì nhưng định bụng sẽ trừng trị bà và các “nữ tù ngoan cố” vào một dịp khác.

Bệnh tim ngày càng trở nặng, bà liên tục bị ngất. Chị em nữ tù đấu tranh quyết liệt với tên sếp Tây. Cuối cùng, chúng đành chấp nhận đưa bà về điều trị tại Nhà thương Biên Hòa. Năm 1943, bà được Thực dân Pháp đưa về quản thúc tại địa phương...

Ba tháng sau, vết thương những ngày bị đọa đày trong nhà tù đế quốc chưa lành thì bà nhận được hung tin: chồng bà đã hy sinh ngoài Côn Đảo ngày 12/6/1942.

Năm 1944, phong trào Việt Minh lên mạnh, bà bắt được liên lạc với tổ chức. Bà gửi con cho mẹ, lao vào công tác và hoạt động ở huyện Châu Thành. Trong Cách mạng tháng Tám 1945, bà đã cầm cờ dẫn đầu hàng ngàn quần chúng tay dao, tay gậy, cờ, băng, biểu ngữ rầm rộ tiến chiếm thị xã Bến Tre.

Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.

Tháng 3 năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện. Đòng đi trên chiếc tàu đánh cá nghi trang, từ cửa biển Bến Tre ra Phú Yên. Rồi từ Phú Yên, họ ngồi xe lửa ra Hà Nội.Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Kết thúc chuyến đi miền Bắc, bà đi thẳng vào Quảng Ngãi - trụ sở của Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, nhận súng, tiền và tài liệu của Trung ương mang về cho Xứ ủy Nam Bộ.

Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. bằng lòng quả cảm, trí thông minh, bà lại cùng các đồng chí của mình khéo léo vượt trùng dương đưa được 12 tấn vũ khí chi viện cho miền Nam một cách an toàn. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

Chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết (7/1954), bà quyết định ở lại miền Nam, chỉ mình con ra Bắc. Khi đó Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà phải giả làm nghề nuôi heo, nuôi gà vịt tại nhà một đồng bào ở giữa cánh đồng vùng giáp ranh ba xã Tân Hòa, Thạnh Phú Đông, Phước Long. Bà đã từng cải trang thành người tu hành, người chăn vịt, người đi mua bán, làm vợ bé, người ở... Đôi chân của bà hết in dấu bên Minh lại về bên Bảo, hết qua An Hóa lại về Châu Thành xây dựng cơ sở, nắm tình hình phong trào. Cái đầu của bà được địch treo giá: “Thưởng 10.000 đồng cho ai bắt được Nguyễn Thị Định".




Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, nữ tướng của đội quân tóc dài


Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau. Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8 (5/1961), Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” ồ ạt đưa quân vào miền Nam năm 1965, cùng năm này bà nhập ngũ, thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam theo dõi chỉ đạo phong trào chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị”. Đó là trận càn lớn nhất của Mỹ - và lính VNCH vào tháng 2/1967, huy động 7 lữ đoàn Mỹ, 2 chiến đoàn VNCH gồm 50.000 tên, 1.100 xe tăng, toàn bộ máy bay nhằm xóa sạch căn cứ Trung ương Cục miền Nam. Bộ Tư lệnh họp, quyết định bằng mọi giá phải bảo vệ vùng căn cứ; chuyển thế bị động sang chủ động tấn công địch. Bộ Tư lệnh phân công bà Nguyễn Thị Định chỉ đạo các đơn vị văn công, tuyên huấn, du kích các cơ quan, đoàn thể tham gia đánh địch. Bà họp toàn thể anh chị em nói: “Mình có ít người, ít vũ khí, phải chia thành từng tổ nhỏ, đào công sự thật chắc, đón hướng đi của địch, đánh cho chúng những đòn bất ngờ, làm chúng nghi là có quân chủ lực đánh”. Cuộc chống càn đã diễn ra đúng như kế hoạch đã chuẩn bị. Suốt 2 ngày đêm, quân ta bẻ gãy cánh quân chủ yếu của địch. Địch lại mở trận tấn công đợt 2. Dưới hầm, bà vẫn bình tĩnh chỉ huy trận đánh. Bốn giờ chiều, Bộ Tư lệnh nhận được tin du kích khối cơ quan do “chị Ba” chỉ huy đã bắn cháy một số xe tăng địch. Sau những ngày bị du kích đánh cho mệt mỏi, rã rời, địch phải co cụm lại một nơi. Lúc ấy, các đơn vị chủ lực của ta đánh thẳng vào những cụm đóng quân của địch, diệt được nhiều xe tăng, máy bay. Trận càn Johnson City địch thất bại thảm hại. Rừng Tây Ninh vang tiếng hát chiến thắng, bà Nguyễn Thị Định được cán bộ chiến sĩ rất khâm phục. Trong đợt Tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, bà được Bộ Tư lệnh phân công đi chỉ đạo tỉnh Tây Ninh. Năm 1970, khi Lonnon lật đổ Xihanúc, các căn cứ của ta ở biên giới Campuchia càng gặp nhiều khó khăn. Chăm chú theo dõi tình hình Campuchia, bà Nguyễn Thị Định trao đổi với các đồng chí ở H12 (Trường sơ cấp Quân giải phóng của Bộ tư lệnh Miền), tìm cách đối phó, bảo vệ căn cứ. Bà phân tích: Địch bên sông Vàm Cỏ chỉ cách ta một con sông nhỏ, ta phải gấp rút tập trung thành lực lượng thống nhất đủ sức đối phó, tránh tình trạng phân tán quá nhỏ, hành động rời rạc. Ta phải ngụy trang chu đáo các kho tàng, tổ chức chiến đấu ở mỗi khu vực. Cần phân tán kho lớn, những vũ khí gọn nhẹ như AK, KCK, K63, B40... chia cho các đơn vị giữ và chiến đấu. Bà kiên nghị nói: “Trong lúc chờ chủ trương của Bộ, của Trung ương Cục, tôi sẽ chịu trách nhiệm trước cấp trên và quyết định đánh. Trong lúc này, ta phải dám nghĩ dám làm, bỏ lỡ thời cơ, ta sẽ gặp khó khăn lớn!”. Rất may, Bộ kịp thời gửi điện xuống căn cứ, giao trách nhiệm cho bà Định cùng Sư đoàn 9, tỉnh Tây Ninh đánh địch bảo vệ lực lượng, bảo vệ căn cứ. Ông Huỳnh Tấn Phát - Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời đến gặp bà, trao đổi: “Ý kiến của trên muốn đưa hai cơ quan về phía Nam, chị nghĩ sao?”. Bà nói: “Nếu đưa cơ quan Chính phủ Cách mạng lâm thời về phía Nam, ta sẽ mắc mưu địch. Nó đang chờ ta để tiêu diệt. Theo tôi, anh cứ tìm chỗ cho cơ quan di chuyển. Tôi sẽ chịu trách nhiệm tổ chức phối hợp chiến đấu bảo vệ cơ quan đầu não của ta”. Ông Huỳnh Tấn Phát đồng ý. Thế là một không khí sôi nổi, khẩn trương diễn ra. Quân Mỹ cho quân đổ xuống Xóm Giữa, gần trường Lê Thị Riêng, máy bay B.52 liên tục thả bom. Dưới đất, chúng cho từng đoàn xe bao quanh căn cứ dày đặc, quyết tâm tiêu diệt cơ quan đầu não của kháng chiến. Bà Định cùng Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát nhận trách nhiệm dẫn cơ quan dân vận gồm gần 1.000 người lặng lẽ băng trong rừng, trong mưa. Cuộc hành quân đúng như dự kiến của bà Định. Trong lúc cơ quan di chuyển, các lực lượng vũ trang đã anh dũng chiến đấu, bẻ gãy được cuộc càn. Các mũi quân của địch sục vào khu căn cứ cách mạng bị đánh mìn, bị du kích đánh gây nhiều tổn thất, khiến chúng không dám sục sạo. Kho tàng của ta được bảo vệ; các bệnh viện kịp thời sơ tán, an toàn. Đặc biệt, trường H 12 trong tay chỉ có một trung đội nhưng trong 3 ngày tiêu diệt được 3 xe tăng, 2 trực thăng Mỹ. Trong thời gian địch càn, vùng căn cứ của ta đón gần hàng ngàn đồng bào và lực lượng cơ quan, cán bộ các phân khu khác dồn về. Lò Gò là một trong những căn cứ chống càn có hiệu quả nhất, thiệt hại rất ít, bảo vệ được vùng giải phóng. Đặc biệt, hai cơ quan Chính phủ Cách mạng lâm thời, cơ quan phụ nữ hầu như không bị thiệt hại gì. Sau này, những người có mặt trong cuộc hành quân dời căn cứ ngẫm lại, giật mình khi đưa ra câu hỏi: “Năm ấy, Trung ương Cục không có Phó tư lệnh Nguyễn Thị Định biết chớp thời cơ, dám chịu trách nhiệm, dám nghĩ dám làm, biết phán đoán tình hình, kiên quyết không di chuyển về phía địch đang chờ sẵn, bà cắt đặt chu đáo quân ứng chiến,... thì cơ quan Chính phủ cách mạng lâm thời sẽ ra sao?! Tài chỉ huy và óc phán đoán nhạy bén, tinh thần trách nhiệm, sự dũng cảm của bà đã góp phần xoay chuyển thế bị cô lập bao vây thành thắng, từ bị động chuyển sang phòng ngự và chủ động tấn công... Năm 1974, bà được phong quân hàm Thiếu tướng. Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng (Đại hội IV - 12/1976, Đại hội V - 3/1982, VI - 12/1986), Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ ( Quốc hội khó VI, VII, VIII), Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (1980 - 1992), Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (từ tháng 6/1987 đến 1992). Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba. Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt, giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế. Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ. Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.




Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện, vị tướng ba lần Nam tiến



http://img399.imageshack.us/img399/1380/thieutuonghoangthethienjn6.jpg

Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện (20/10/1922 – 5/9/1995), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Thứ trưởng thứ nhất Bộ Thương binh và Xã hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.


Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Nhì, 1 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương chiến công hạng Nhất, 2 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và nhiều huân huy chương khác. Ông còn được Hội đồng Viện hàn lâm Hermann Gmeiner thuộc tổ chức Làng trẻ em SOS quốc tế trao tặng giải thưởng "Kim vàng Danh dự" do đã có những đóng góp đặc biệt cho tổ chức này.

"Đồng chí Hoàng Thế Thiện là một cán bộ cao cấp của Đảng, một vị tướng của Quân đội. Đồng chí đã từng đảm nhiệm những chức vụ quan trọng, suốt đời chiến đấu vì sự nghiệp của Đảng, của Dân tộc. Đồng chí có ưu điểm nổi bật là dù ở cương vị nào cũng là tấm gương đoàn kết và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được đồng chí, đồng đội tin yêu". (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

"Anh Thiện có nhiều kinh nghiệm về công tác chính trị và có kiến thức quân sự. Anh chiến đấu rất dũng cảm. Anh Thiện đã cùng anh Nguyễn Hữu An chỉ huy, chỉ đạo Sư đoàn 1 đánh nhiều trận hay, đặc biệt là đánh thiệt hại nặng lữ dù 173 của Mỹ trong chiến dịch Đắc Tô I trên đồi 875 ở phía tây bắc Kon Tum vào mùa Đông năm 1967 ... Điểm đặc biệt của anh Thiện: tuy là Chính ủy nhưng rất chú ý đến quân sự và nghiên cứu về tình hình địch. Một Chính ủy như thế quả là hơi hiếm". (Thượng tướng Hoàng Minh Thảo)

"Anh Hoàng Thế Thiện - Chính ủy là người toàn năng, không chỉ giỏi về chính trị mà còn là người hiểu biết về quân sự, khá sâu những vấn đề có liên quan đến cương vị của mình và rất xứng đáng là nhân vật trung tâm của Sư đoàn" (Thượng tướng Nguyễn Hữu An)

"Tuy là Chính ủy nhưng anh Hoàng Thế Thiện có trình độ cao về nghệ thuật quân sự, về cách đánh của nhiều hình thức tác chiến khác nhau. Vì vậy, anh không chỉ đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị mà anh còn thực sự là một cán bộ chỉ huy quân sự, đi sâu vào tác chiến ... Điều làm gương cho chúng tôi và cán bộ quân sự nói chung là địch tìm mọi cách chống lại ta thì anh luôn tìm cách để đánh thắng địch. Đây là một điểm rất đặc biệt ở anh Thiện, một Chính ủy mà cũng là một nhà quân sự. Địch có cách này thì ta có cách khác hay hơn nó để đánh thắng nó. Đây là điều rất cần thiết trong chiến tranh". (Thiếu tướng Hoàng Đan)Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện tên thật là Lưu Văn Thi sinh năm 1922 tại Hải Phòng trong một gia đình nghèo yêu nước. Cha ông từng tham gia phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu và tham gia phong trào mặt trận Bình dân, là sáng lập viên đồng thời là Ủy viên Ban trị sự Hội Ái hữu công nhân tư gia thành phố Hải Phòng, cụ từng bị thực dân Pháp bắt giam. Gia đình cụ cũng là cơ sở của nhà Cách mạng Nguyễn Lương Bằng.

Ngay từ khi còn là học sinh Trường Bonnal, Hoàng Thế Thiện đã tích cực tham gia vào các hoạt động yêu nước của phong trào Hướng đạo sinh thành phố Hải Phòng. Đầu năm 1940, ông tham gia Tiểu tổ bí mật do nhà cách mạng Vũ Quý phụ trách, tự động xây dựng lại cơ sở cách mạng bí mật tại thành phố Hải Phòng đã bị địch khủng bố tan rã trước đó. Ông tham gia hoạt động trong phong trào Truyền bá Quốc ngữ từ năm 1940 và được cử làm Ủy viên Ban Trị sự Hội Truyền bá quốc ngữ thành phố Hải Phòng.

Tháng 1 năm 1942, ông tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc và được giao nhiệm vụ xây dựng Đoàn Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh thành phố Hải Phòng, đồng thời phụ trách một cơ sở bí mật trong thanh niên, học sinh thành phố. Sau một đợt đấu tranh treo cờ, phân phát truyền đơn toàn thành phố Hải Phòng có kết quả vào cuối năm 1942, ông được giao nhiệm vụ chuẩn bị thành lập Đoàn Thanh niên Cứu quốc toàn thành phố và thống nhất đầu mối chỉ đạo.

Tháng 3 năm 1943, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt tại Ngân hàng Đông Dương và đưa ra xử tại tòa án binh Hà Nội. Ông bị kết án 5 năm tù khổ sai, bị giam tại nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), rồi bị đày lên nhà tù Sơn La. Trong tù, mặc dù bị tra tấn, đày ải nhưng ông không nhụt trí đấu tranh. Ông được kết nạp vào nhóm Trung Kiên ở Hỏa Lò và Hội Lao tù Cứu quốc ở Sơn La, được nhà cách mạng Trần Đăng Ninh trực tiếp huấn luyện về công tác bí mật và vận động quần chúng.

Tháng 3 năm 1945, ông vượt ngục tập thể trong nhóm của nhà cách mạng Trần Quốc Hoàn rồi về Thái Nguyên tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng 4 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử làm Đội trưởng Đội Vũ trang Tuyên truyền Cứu quốc quân huyện Vũ Nhai.

Tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền tại thị xã Thái Nguyên. Tháng 10 năm 1946, ông làm Thường vụ Tỉnh ủy - Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Thái Nguyên. Tháng 10 năm 1946, ông làm Thường vụ Tỉnh ủy - Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Vĩnh Yên.

Tháng 4 năm 1947, ông được điều vào Quân đội làm Phái viên Chính trị Khu 10, rồi Trưởng phòng Chính trị Liên Khu 10 - Quân khu ủy viên. Tháng 7 năm 1948, ông được cử làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Sông Lô (E209).

Tháng 9 năm 1949, ông được Bộ Quốc phòng cử làm Trưởng đoàn cán bộ quân sự vào tăng cường cho chiến trường Nam Bộ, Nam tiến lần thứ nhất. Tháng 7 năm 1950, ông làm Phái viên Kiểm tra Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Tháng 11 năm 1950, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Tây Đô (Khu 9), Chỉ huy phó các chiến dịch Long Châu Hà II và chiến dịch Sóc Trăng II. Cuối năm 1951, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Cửu Long (Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ). Tháng 10 năm 1952, ông làm Trưởng phòng Chính trị rồi Chủ nhiệm Chính trị Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ - Quân khu ủy viên, ủy viên Ban Tuyên huấn và ủy viên Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam.

Năm 1955, ông tập kết ra Bắc phụ trách Ban Đại diện miền Tây Nam Bộ. Tháng 12 năm 1955, ông làm Chủ nhiệm Chính trị Liên khu 3 - Quân khu ủy viên. Tháng 7 năm 1956, Ông làm Chính ủy Ban Nghiên cứu Sân bay. Tháng 12 năm 1958, ông được phong quân hàm Thượng tá. Tháng 1 năm 1959, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Cục Không quân.

Tháng 10 năm 1964, ông trở lại chiến trường Nam Bộ trên con tàu "không số" (Đoàn 125) với bí danh là Hoàng Dân tức Tư Dân, Nam tiến lần thứ hai. Lúc này, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng có chủ trương thành lập một sư đoàn chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam ở miền Tây Nam Bộ. Ông về thẳng miền Tây để chuẩn bị cho việc thành lập sư đoàn này và đảm nhiệm chức vụ Chính ủy sư đoàn, nhưng vì nhiều lý do khách quan nên sư đoàn này không thành lập được.

Tháng 12 năm 1964, ông làm Phó Chính ủy Quân khu 8 (Trung Nam Bộ). Tháng 7 năm 1965, ông về miền Đông tham gia thành lập Sư đoàn 9 - Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Quân Giải phóng miền Nam, làm Phó Chính ủy - Phó Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị đầu tiên của Sư đoàn 9.

Tháng 2 năm 1966, ông được phong quân hàm Đại tá. Tháng 8 năm 1966, ông về Mặt trận Tây Nguyên (B3) làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 1, Đảng ủy viên Mặt trận B3; ông đã cùng Tư lệnh sư đoàn Nguyễn Hữu An chỉ huy, chỉ đạo Sư đoàn 1 đánh nhiều trận hay, đặc biệt là đánh thiệt hại nặng Lữ dù 173 của Mỹ trong chiến dịch Đắc Tô 1 trên đồi 875 ở phía tây bắc Kon Tum vào mùa đông năm 1967. Tháng 1 năm 1969, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 304.

Tháng 7 năm 1970, ông được điều vào tuyến lửa Trường Sơn, làm Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Mặt trận 968 Nam Lào rồi tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (tháng 1 năm 1971). Tháng 6 năm 1971, ông làm Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn (đoàn 559) kiêm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh khu vực 470 (tương đương Sư đoàn). Tháng 5 năm 1973, ông làm Chính ủy - Phó Bí thư rồi Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn.

Ngày 16 tháng 4 năm 1974, ông được phong quân hàm Thiếu tướng theo Lệnh số 21-LCT của Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Tôn Đức Thắng.

Tháng 2 năm 1975, ông được điều vào chiến trường B2 (Nam Bộ), Nam tiến lần thứ ba, làm Chính ủy đầu tiên - Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 4, Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Mặt trận phía Đông thuộc Bộ Tư lệnh B2. Ông trực tiếp chỉ huy hướng tiến công Dầu Tiếng - Chơn Thành. Tháng 4 năm 1975, ông tham gia chỉ huy cánh quân hướng Đông - một trong năm cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Tháng 12 năm 1976, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV.

Tháng 4 năm 1977, ông được cử làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng Kinh tế - Bí thư Đảng ủy Tổng cục.

Từ tháng 10 năm 1978 đến tháng 6 năm 1982, ông làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, trưởng Ban B.68 Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Đoàn Chuyên gia Việt Nam toàn Campuchia, Cố vấn cho Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, Phó Tổng đoàn chuyên gia Việt Nam tại Campuchia, Phó Tư lệnh Chính trị Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia kiêm Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Campuchia (đoàn 478).

Tháng 7 năm 1982, ông được điều về nước làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Thương binh và Xã hội. Tháng 5 năm 1983, ông được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa II. Tháng 2 năm 1987, ông làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Tháng 7 năm 1987, ông được nghỉ hưu.

"Có thể nói rằng, chặng đường chiến đấu của Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện ở Nam Bộ gắn liền với các đơn vị chủ lực, với quá trình xây dựng, chiến đấu và công tác của lực lượng vũ trang chủ lực ở Nam Bộ, từ trung đoàn đến cấp quân đoàn. Ông có mặt ở hầu khắp các chiến trường Nam Bộ, từ miền Tây, miền Trung lên miền Đông và thành phố Sài Gòn, từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến kháng chiến chống đế quốc Mỹ và những ngày tháng sôi động sau khi đất nước hòa bình, thống nhất. Những gì ông để lại cho lực lượng vũ trang Nam Bộ là hình ảnh một cán bộ chính trị - quân sự kiên trung, tận tụy, sâu sắc, mực thước và dung hậu. Với tư cách một người lính cầm súng, trên dọc đường hành quân đánh giặc, Nam Bộ là nơi ông dừng chân nhiều nhất, cũng là nơi ông dừng lại sau cùng" (Đại tá Hồ Sơn Đài, tiến sĩ Sử học)


"Cuộc đời và sự nghiệp của Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện là một tấm gương sáng về phẩm chất của người cán bộ cách mạng, một vị tướng trưởng thành từ cơ sở, qua nhiều cương vị, là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội đứng mũi chịu sào của nhiều đơn vị. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng chí đã được Đảng tin cậy giao nhiệm vụ vào chiến trường Nam Bộ trong những thời điểm khó khăn nhất, nhưng đồng chí đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trên 50 năm hoạt động cách mạng, gần 40 năm chiến đấu và công tác trong Quân đội, đồng chí luôn thể hiện là một cán bộ chính trị - quân sự trung kiên, dũng cảm, trung thực, liêm khiết, sống gần gũi với đồng chí, đồng bào, nghiêm khắc với mọi biểu hiện cá nhân chủ nghĩa. Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện đã có nhiều công lao trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Là một vị tướng có uy tín của Quân đội, công lao và thành tích xuất sắc của đồng chí đã được Đảng, Nhà nước và Quân đội ta ghi nhận. Lịch sử hai cuộc kháng chiến vĩ đại của Dân tộc ta và lịch sử quá trình xây dựng, chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng còn mãi mãi ghi đậm hình ảnh và công lao vị tướng có tài tổ chức và chỉ huy chiến đấu, một Chính ủy kiên trung, mẫu mực, một đảng viên ưu tú của Đảng" (Thiếu tướng Trịnh Vương Hồng, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)




Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ, vị tướng-Bộ trưởng đức độ tài năng
http://img80.imageshack.us/img80/485/thieutuongphantrongtuegh5.jpg
Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ (1917 – 1991), nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), nguyên Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, nguyên Phó Tổng thanh tra Quân đội, nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh 559 (Bộ Tư lệnh Đường Trường Sơn), nguyên Thứ trưởng Bộ Công an.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 15/10/2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và nhiều huân, huy chương khác.

"Đồng chí Phan Trọng Tuệ, người Cộng sản kiên trung, một vị tướng, một cán bộ cao cấp của Đảng, của Nhà nước có đức độ và tài năng, hết lòng vì nước vì dân. Đồng chí sớm giác ngộ cách mạng, gia nhập Đảng từ năm 1934 lúc mới 17 tuổi, đã 2 lần bị địch bắt, tù đày, tra tấn nhưng đồng chí vẫn giữ vững khí tiết…với tôi đồng chí là người bạn chiến đấu thủy chung". (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

"Anh Phan Trọng Tuệ không chỉ đóng góp cho ngành Giao thông vận tải mà còn có nhiều cống hiến đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN, đấu tranh thống nhất nước nhà… Anh đã rất xuất sắc trên cương vị Chính ủy và Tư lệnh Đoàn 559 mở đường cơ giới cho ôtô đi sâu vào các chiến trường miền Nam. Anh huy động các lực lượng giao thông vận tải làm hậu cần cho quân đội giành thắng lợi cuối cùng ở Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau khi thống nhất nước nhà, anh đã chỉ đạo nhanh chóng khôi phục đường sắt thống nhất Bắc - Nam vào dịp Đại hội Đảng lần thứ 4 (1976)’’ (Nguyễn Văn Trân, nguyên Bí thư Thành ủy Hà nội, nguyên Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Hà Nội trong những ngày Toàn quốc kháng chiến)

Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ quê ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây – một vùng đất giàu truyền thống yêu nước. Dòng họ Phan ở Sài Sơn xuất phát từ Thạch Hà, Hà Tĩnh với ông tổ là Danh sĩ Phan Huy Ích. Phan Huy Ích chuyển từ Hà Tĩnh ra định cư tại xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây và sinh ra Phan Huy Chú, nhà Bác học, Sư học nổi tiếng thời Nguyễn. Tuy nhiên, ông lại sinh ra tại Viên Chăn, Lào. Cụ thân sinh ra ông là Phan Trọng Định, khoảng đầu thế kỷ 20, đã phiêu bạt sang tận Lào, Thái Lan mưu sinh.

Sau khi gây dựng được cơ ngơi tại Viên Chăn, cụ Định về quê đón cụ bà Trịnh Thị Miễn cùng 2 người con gái là Phan Thị Lạng và Phan Thị Nén sang đoàn tụ. Tại vùng đất mới 2 cụ sinh thêm ra các ông bà Phan Trọng Tuệ, Phan Trọng Quang, Phan Thị Sáng, Phan Thị Suốt.

Khoảng giữa năm 1930, Viêng Chăn trở thành nơi lưu trú của nhiều chiến sĩ cách mạng sau sự kiện Xôviết Nghệ Tĩnh bị dìm trong biển máu, phải lẩn trốn sự truy lùng của mật thám Pháp.

Cụ bà Trịnh Thị Miễn, tuy chỉ là người nội trợ, nhưng cũng là người đứng đầu tổ chức ái hữu, đã vận động bà con Việt kiều che chở, đùm bọc những chiến sĩ cách mạng. Được tiếp xúc với sách báo tiến bộ và những người cách mạng, Phan Trọng Tuệ đã tích cực tham gia các hoạt động xã hội như giúp đỡ người nghèo, chống lại sự hà hiếp, áp bức của bọn chức dịch, tay sai…

Năm 1934, Phan Trọng Tuệ trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1935, Phan Trọng Tuệ tham gia lãnh đạo cuộc mít tinh lớn phản đối thực dân Pháp, nên bị bắt giam 4 tháng. Sự việc này, cùng với ảnh hưởng và những việc làm yêu nước của gia đình họ Phan khiến chính quyền sở tại lo ngại, họ bèn trục xuất cả gia đình về quê gốc Sài Sơn để quản thúc cùng với Nguyễn Văn Thọ và Đào Văn Tiễu. Thời gian này, ông cùng các đồng chí của mình đã nhanh chóng khôi phục hoạt động, tổ chức vận động cách mạng ngay tại quê hương. Tháng 8/1936, "Tổ Cộng sản Đa Phúc" đã được thành lập tại nhà của ông với ba thành viên chủ chốt là Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Thọ, Đào Văn Tiễu. Tổ được ra đời nhằm công việc Tuyên truyền, vận động cách mạng trong quần chúng nhân dân địa phương và tìm cách bắt liên lạc với Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm 1937 ông trực tiếp phụ trách chi bộ Ðảng ở xã Sài Sơn và liên lạc với Thành uỷ Hà Nội. Năm 1940 ông là Bí thư Tỉnh uỷ lâm thời tỉnh Sơn Tây.

Năm 1941: Bí tỉnh uỷ Hà Ðông, rồi Bí thư liên tỉnh uỷ gồm Hà Nội, Hà Ðông, Sơn Tây, Hà Nam. Cuối năm 1941, ông là Xứ uỷ viên xứ uỷ Bắc Kỳ phụ trách công tác binh vận.

Tháng 9/1943, ông bị thực dân Pháp bắt tại Hà Nam và đem giam tại Hỏa Lò, Hà Nội. Cuối năm này ông bị kết án 27 năm tù và đày đi Côn Đảo cùng với hơn mười ‘’tù chính trị nguy hiểm’’ khác trong đó có Trần Văn An, Vũ Xuân Chiêm (sau này là Trung tướng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng). Trong tù ông tiếp tục hoạt động cách mạng, là chi ủy viên khối Hà Nội-Sơn La.

Cách mạng tháng Tám thành công, ông công tác trong Ban trật tự Côn Đảo cho đến ngày 20/9. Ông được Ủy ban Khởi nghĩa Nam Bộ cho thuyền ra đón và trở về cửa Mỹ Thanh thuộc Sóc Trăng trong đêm 22/9 cùng với nhiều tù chính trị khác trong đó có Bác Tôn và Lê Duẩn.

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, các tù chính trị Côn Đảo được phân công đi các tỉnh miền Nam và miền Trung lãnh đạo kháng chiến. Phan Trọng Tuệ được phân công ở lại miền Tây Nam Bộ trên cương vị Thanh tra kháng chiến Hậu Giang, Ủy viên liên tỉnh ủy (gồm 10 tỉnh miền Tây Nam Bộ). Ngày 23/8/1947, ông được cử giữ chức Chính trị viên Khu 9.

Từ tháng 12 năm 1948 đến năm 1950, ông làm Chính ủy Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn; Chính ủy Khu VII; Thanh tra Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Từ năm 1952 đến năm 1954, ông làm Tư lệnh, sau đó Phó Tư lệnh kiêm Chính ủy Phân liên khu miền Tây Nam Bộ.

Từ tháng 8 năm 1954, ông là Đại tá Phó Trưởng đoàn Liên hiệp đình chiến Nam Bộ rồi quyền Trưởng đoàn Đại biểu Bộ tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Ủy ban liên hiệp đình chiến Trung ương, đồng thời ông cũng giữ vai trò Phó Trưởng đoàn liên hiệp định chiến Trung ương. Năm 1955, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng theo Sắc lệnh 243-SL ngày 3 tháng 11 năm 1955, do Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh kí.

Tháng 3 năm 1957, ông làm Phó Tổng thanh tra Quân đội.

Ngày 19/11/1958, các đơn vị bộ đội quốc phòng đang làm công tác bảo vệ nội địa, bảo vệ biên giới, bờ biển, giới tuyến và các lực lượng vũ trang khác chuyên trách công tác bảo vệ nội địa và biên phòng, giao cho ngành công an trực tiếp chỉ đạo, lấy tên là Lực lượng Cảnh vệ, ông được cử phụ trách lực lượng này kiêm Thứ trưởng Bộ Công an. Ngày 3/3/1959, Khi lực lượng Công an vũ trang (tiền thân của lực lượng Biên phòng) được thành lập, ông được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên của Lực lượng Công an nhân dân vũ trang cho đến năm 1961.

Năm 1961 đến năm 1980, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và là Bộ trưởng lâu năm nhất của Bộ này. Thời gian ông làm Bộ trưởng kéo dài suốt cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc và thời kì khôi phục cơ sở giao thông, đường sá cầu cống Bắc Nam sau chiến tranh.

Từ năm 1965 đến năm 1968, ông được cử vào tuyến chiến lược Trường Sơn, làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 559 thay cho Đại tá Hoàng Văn Thái đi nhận nhiệm vụ khác. Đây cũng là thời điểm bắt đầu mở đường Trường Sơn cho cơ giới nhằm đáp ứng với đòi hỏi của thực tế chiến trường là quân Mĩ ào ạt đổ bộ vào miền Nam Việt Nam.

Năm 1968, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ông vào phụ trách và chỉ đạo công tác bảo đảm giao thông trên địa bàn Quân khu IV nhằm phục vụ cho công tác chi viện cho chiến trường miền Nam, đặc biệt là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Bởi vì, địa bàn Quân khu IV là địa bàn tập trung binh lực, vũ khí, đạn dược…chi viện của miền Bắc trước khi vượt Trường Sơn vào Nam cho nên luôn là trọng điểm đánh phá của giặc Mĩ.

Từ năm 1973 đến năm 1976, ông kiêm chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thời gian này ông cùng Phó Thủ tướng Đỗ Mười thay mặt Chính phủ chỉ đạo việc phát triển Đường Trường Sơn thành đường chuẩn Quốc gia. Đây là một vấn đề mang tính chiến lược, góp phần quan trọng tạo thế và lực cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Từ cuối năm 1974 đến 1975, ông làm Ủy viên Thường trực Hội đồng Chi viện giải phóng miền Nam.

Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa III và VI. Đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VI.

Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ là một vị Bộ tưởng có tài quản lý và có tầm nhìn chiến lược đối với sự phát triển của Bộ Giao thông Vận tải, nhằm đáp ứng những đòi hỏi và yêu cầu thực tế của tình hình đất nước. Năm 1961, ngay khi được cử làm Bộ trưởng, ông đã chỉ đạo các cán bộ khoa học kĩ thuật của Bộ nghiên cứu, thiết kế, đóng mới loại tàu cỡ nhỏ của Bộ Quốc phòng. Đây là một công tác bí mật mang tính chiến lược, vì đó chính là những con tàu không số huyền thoại. Ngành đóng tầu Việt Nam hiện nay là một trong những ngành cônng nghiệp trọng điểm rất phát triển, ngành mà chúng ta hoàn toàn có thể tự chủ từ khâu thiết kế đến khâu thi công. Hiếm ai biết được ngay từ năm 1970, chính Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ đã chỉ đạo cán bộ của Bộ thực hiện đề tài “Về chiến lược cần xây dựng Việt Nam thành một quốc gia hàng hải - với nền kinh tế biển phát triển - một hạm đội mạnh - một đội thương thuyền mạnh. Muốn vậy phải xây dựng một nền công nghiệp đóng tàu Việt Nam hiện đại và phát triển”, ông luôn quan tâm đến việc xây dựng lực lượng nghiên cứu thiết kết và lực lượng đăng kiểm.

Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ không những yêu khoa học, thích kỹ thuật, mà còn có tư duy khoa học, kỹ thuật rất độc đáo, một con người rất coi trọng trí tuệ và trí thức. Ông luôn luôn quan tâm động viên, khuyến khích các cán bộ khoa học kĩ thuật, tạo điều kiện cho họ hoàn thành nhiệm vụ của mình trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh và đồng thời rất biết tiếp thu những đề suất cũng như những ý tưởng của họ. Ông thường nói “Cán bộ khoa học phải cố làm những gì sản xuất và chiến đấu đang cần với cái gì đang có và sẽ tạo ra với ý chí quyết tâm học hỏi - phàm những việc người khác làm ta cố gắng rồi cũng làm được. Ta đã thắng giặc Mỹ trên mặt trận giao thông vận tải đâu chỉ bằng sức lực mà cả bằng trí tuệ nữa. Trí tuệ Việt Nam có chịu thua kém đâu”. Chính tướng Phan Trọng Tuệ là người gợi ý cho các đề tài khoa học như : ca-nô không người lái dùng để phá thủy lôi, rồi ý tưởng cho ô tô chạy trực tiếp trên dây cáp thông qua kẽ hở vành lốp ô tô – đây chính là cơ sở cho đề tài khoa học ‘’nghiên cứu các biện pháp vượt sông bằng hệ dây đàn hôi’’.


Trung tướng Nguyễn Bình, vị tướng huyền thoại



http://img80.imageshack.us/img80/6803/tuongnguyenbinhcq1.jpg
Trung tướng Nguyễn Bình (1908 – 29/9/1951), Anh hùng Lực lượng Vũt rang Nhân dân (truy tặng) nguyên Khu trưởng Khu VII, nguyên Chỉ huy trưởng Chiến khu Đông Triều. Ông được phong hàm Trung tướng ngay trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.

‘’Bác giao miền Nam cho chú’’ (Chủ tịch Hồ Chí Minh)

“Thảo có can đảm, vũ dũng hơn người và trung hậu với bạn, trung thành với đoàn thể. Trước Cách mạng Tháng Tám, Thảo lập chiến khu Đông Triều một cách tự động...” (Nhà sử học Trần Huy Liệu)
Nguyễn Bình tên khai sinh là Nguyễn Phương Thảo, quê làng An Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ nhưng sống ở thành phố Hải Phòng.

Ông sinh năm 1908 trong một gia đình trung lưu có 5 người con, ông là thứ 4. Năm 17 tuổi đang học năm thứ 2 trường Trung học Hải Phòng, vì những hoạt động yêu nước và bị thực dân Pháp truy lùng, ông trốn gia đình vào Nam giao du với nhà văn giang hồ Vương Sơn. Sau ông kết thân với nhà văn, nhà báo Trần Huy Liệu bấy giờ là Đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng và trở thành Đảng viên tích cực của Đảng này, giữ chức Trưởng ban tổ chức. Năm 1928 Xứ bộ Việt Nam Quốc dân Đảng Nam Kỳ được thành lập, hoạt động với tôn chỉ: “Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”. Ông được bầu vào Ban chấp hành Xứ bộ, Trần Huy Liệu giữ chức Bí thư.

Năm 1929 ông và Trần Huy Liệu bị bắt, bị kết án 5 năm tù và đày Côn Đảo. Khi ở tù, được tiếp xúc với những đảng viên cộng sản, ông có thiện cảm với Đảng cộng sản, đường lối đấu tranh của ông bắt đầu ngả sang những người cộng sản. Chính vì vậy mà ông bị bọn cầm đầu Quốc dân Đảng thanh trừng, bị khoét mất mắt trái. Cũng từ đó ông nhận ra rằng khẩu hiệu của chủ nghĩa Tam dân thực chất chỉ là khẩu hiệu suông, còn bọn cầm đầu thì theo mục đích: “Vinh thân thì gia” và không ngần ngại thủ tiêu những đồng đảng khác chính kiến.

Năm 1935 mãn hạn tù, ông trở về quê nhà. Ông tiếp tục hoạt động, bí mật xây dựng chiến khu Đông Triều, ông bị bắt một lần nữa từ năm 1938 đến năm 1942. Tuy bị quản thúc nhưng ông vẫn nuôi ý chí cách mạng, bí mật xây dựng Đông Triều làm căn cứ chống Pháp một cách độc lập. Khoảng năm 1942, ông được tổ chức Đảng và Việt Minh giao cho nhiệm vụ mua vũ khí chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa. Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đồng thời còn vận động binh lính các đồn Thủy Nguyên, Cửa Ông, thị xã Kiến An cung cấp vũ khí. Nhờ súng đạn nhiều mà Đông Triều trở thành chiến khu vững vàng và chùa Bắc Mã là tổng hành dinh của quân giải phóng chiến khu Đông Triều.

Đêm 12/3/1945 ông tham gia đánh trận đồn Bần Yên Nhân, thu được nhiều thắng lợi. Trận đánh đồn Bần được coi là trận đánh kiểu mẫu ở đồng bằng.

Cũng trong tháng 3-1945, ông đã lãnh đạo tổ chức đánh cướp tàu Pháp ở Hạ Lý-Hải Phòng, hạ đồn Đông Triều, diệt đồn Bí Chợ, đánh địch chiếm thị xã Uông Bí.

Tháng 4/1945 Hội nghị quân sự Bắc kỳ quyết định cả nước chia làm 7 quân khu, Bắc Bộ có 4, ông giữ chức Tư lệnh Đệ tứ quân khu (tức chiến khu Đông Triều gồm các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Hòn Gai, Móng Cái và Lạng Sơn).

Trong tháng 6, tháng 7 năm 1945 ông chỉ huy nhiều trận đánh lớn, thu được nhiều lương thực và vũ khí, như trận phục kích trên sông Kinh Thầy, trận tấn công đồng loạt 5 đồn Thanh Hà, Kinh Môn, Thuỷ Nguyên, Uông Bí, và Bí Chợ, đặc biệt là trận đánh chiếm giải phóng thị xã Quảng Yên, là tỉnh lị duy nhất ở miền Bắc về tay nhân dân trước cách mạng tháng Tám. Trong các trận này thu 600 súng trường, 400 trung liên. Thừa thắng ông mang quân đi yểm trợ cuộc khởi nghĩa ở Hải Phòng, sau đó giải phóng Tiên Yên, Ba Chẽ, Hòn Gai, Cẩm Phả, Cát Bà.

Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông dẫn gần 100 nghĩa quân tiến theo cờ đỏ sao vàng trên đường 18 hướng tới Đông Triều. Cả đoàn chỉ có một súng trường, còn toàn giáo mác. Cánh tay phải của mỗi người đeo một băng đỏ dính sao vàng. Riêng trên ngực ông có gắn miềng vải đỏ có chữ TCH-tức Tổng chỉ huy…Từ chiến khu Đông Triều, ông đã chỉ huy lực lượng tiến công phối hợp với nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, tổ chức giành chính quyền ở Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An. Hải Dương là một trong những tỉnh giành được chính quyền đầu tiên trong cả nước, trước khi mệnh lệnh tổng khởi nghĩa về đến. Sau đó, ông được giao làm khu trưởng Khu duyên hải Bắc Bộ, ông là người có công lớn trong bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ ở đây.

Do có biệt tài về quân sự, tháng 9/1945 ông được Hồ Chủ tịch cử vào miền Nam lo việc thống nhất các lực lượng vũ trang tại chiến trường Nam Bộ.

Ông thưa với Bác :

- Thưa Bác, được Bác tin cậy trao cho nhiệm vụ vô cùng lớn lao, vô cùng hiểm nguy và nặng nề, Nguyễn Bình xin bái mệnh, nhưng…

- Chú nhận nhiệm vụ rồi sao còn ‘’nhưng’’ ?

- Thưa Bác, một Nguyễn Bình giang hồ ngang dọc để làm việc nghĩa, một Nguyễn Bình Quốc dân đảng để cứu nước đã thất bại…Nguyễn Bình ly khai Quốc dân đảng bị kết tội phản đảng, họ trị tội bằng cách móc một mắt. Nguyễn Bình không chết đã tìm đến con đường của ‘’Ông Nguyễn yêu nước’’. Giờ đây được Bác tin cậy giao việc lớn cho cháu, nhưng cháu chưa phải là Đảng viên đảng cộng sản…

Bác Hồ mỉm cười :

- Đảng viên cộng sản ử ? Tổ quốc trên hết ! Tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Bình ái quốc, ái dân và bình thiên hạ cho an sinh hòa mục…

Tháng 10 năm 1945, ông vào Nam đi theo ngả Tây Nguyên tới thị xã Thủ Dầu Một, ở nhà ông giáo Chương. Sau đó, được ông Võ Bá Nhạc là con rể ông Chương nhường sở cao su Bến Vịnh mà chủ người Pháp giao cho quản lý để ông lập tổng hành dinh. Chính ông Võ Bá Nhạc là chánh văn phòng cho ông từ ngày đầu cho tới lúc hy sinh.

Ông được giao giữ chức ủy viên quân sự Nam bộ kiêm khu trưởng khu VII, rồi Tư lệnh mặt trận Nam Bộ với toàn quyền quyết định các việc thuộc lĩnh vực quân sự tại Nam Bộ, theo sắc lệnh số 18/SL ngày 21 tháng 3 năm 1949 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong những ngày đầu kháng chiến, tình hình Nam Bộ hết sức rối ren, phức tạp, có thể ví như thời kỳ “Thập nhị sứ quân” - gồm nhiều Đảng phái, anh hùng hảo hán và phải đối diện với một đội quân viễn chinh hùng hậu. Nguyễn Bình đã tìm mọi cách tập hợp các lực lượng kháng chiến dưới sự chỉ huy chung và nhanh chóng tổ chức một cuộc kháng chiến toàn lực, toàn diện.

Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn vì trong Nam lúc đó rất nhiều màu sắc chính trị, đảng phái và tôn giáo như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, Hải Hồ (do Nhật tổ chức)... Nguyễn Bình tìm được giọng nói thích hợp với từng hạng người. Với tư sản Sài Gòn, ông đề cập tinh thần quốc gia. Với nông dân ông nói về chia ruộng đất các đại điền chủ cấp cho dân nghèo. Với thanh niên ông hô hào lòng dũng cảm vì nước quên mình... Nhưng ông cũng dùng cả hình phạt với những kẻ lợi dụng chiến tranh để làm giàu bằng cách hợp tác với Pháp... Tổng hành dinh của ông ở giữa Đồng Tháp Mười mà lại tiếp giáp cửa ngõ Sài Gòn, nhờ khéo ngụy trang mà không bị quân Pháp tìm thấy. Một bộ máy hành chính, kinh tế và quân sự cực kỳ phức tạp được thiết lập trên khắp Nam Bộ. Tất cả các làng và các phường hộ trong thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn đều có cán bộ lãnh đạo nhân dân, thu thuế và thi hành các bản án dành cho bọn phản động...”.

Vào Nam, tướng Nguyễn Bình đã sử dụng tài đức của mình kể cả tác phong anh hùng mã thượng để thu phục các nhóm của Bảy Môn, Mười Lực, Mười Trí, Bảy Viễn, Tám Mạnh, Ba Dương... Chẳng những thế, tướng Nguyễn Bình còn thu phục được giới trí thức làm việc dưới trướng như giáo sư Phạm Thiều, Đặng Minh Trứ, luật gia Lê Đình Chi, Huỳnh Kim Trương, Huỳnh Văn Nghệ...

Tướng Nguyễn Bình còn tỏ ra vị tướng có bản lĩnh phi thường khi một mình vào Sài Gòn để nghiên cứu tình địch, hay khi làm chánh án xử Ba Nhỏ tử hình, Ba Nhỏ xin ân huệ được dùng súng ngắn của tướng Nguyễn Bình để tự xử. Ông đã bình tĩnh tháo súng sai người đưa cho Ba Nhỏ. Mọi người hồi hộp lo lắng cho ông. Ba Nhỏ đã nhận súng và tự xử trước mặt mọi người. Ông Chánh án Nguyễn Bình và tử tội Ba Nhỏ đều hiên ngang đầy đủ khí phách như nhau trước cái chết và cái còn mạnh hơn cái chết đó là: danh dự.

Những chiến công buổi đầu của quân dân Nam Bộ được gắn liền với tên tuổi Nguyễn Bình, khiến các giới chính trị, quân sự Pháp cũng phải kính nể.

Năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam.

Ngày 25/1/1948 Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh phong cho ông hàm Trung tướng. Đây là trung tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 9/1951, theo yêu cầu của Trung ương, ông lên đường ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Trên đường đi ông bị giặc phục kích, hy sinh tại biên giới Việt Nam - Campuchia.

Trung tướng Nguyễn Bình là người chỉ huy mưu lược, quyết đoán và dũng cảm, giữ kỷ luật nghiêm minh, lập nhiều chiến công xuất sắc ở những nơi nguy hiểm vào những thời điểm khó khăn nhất. Ông có công trong việc thống nhất lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ và xây dựng Ban công tác thành (biệt động) Sài Gòn. Tháng 2 năm 1952 Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh 84/SL truy tặng ông Huân chương Quân công hạng nhất. Ông cũng là người đầu tiên trong quân đội được nhận Huân chương cao quý này.

Sau khi ông qua đời, nhiều sách báo đã viết về ông như một hiện tượng đặc biệt về tài năng quân sự những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sử gia người Pháp chuyên về Đông Dương P.Sê-nút đã viết về “Nguyễn Bình-ông tướng một mắt”. Các sử gia người Pháp tặng Nguyễn Bình biệt danh “Lưu Bá Thừa của Việt Nam”-Lưu Bá Thừa là tướng “độc nhãn long” nổi tiếng chuyên về tiến hành chiến tranh du kích của Quân giải phóng Trung Hoa. Sê-nút đã ngợi ca Nguyễn Bình là “Lưu Bá Thừa của Việt Nam” đã ngã xuống cho Nam Bộ đứng lên.

Tuy nhiên ở đây cũng phải nói đến mỗi quan hệ giữa tài năng của Nguyễn Bình và sự tinh tế, mạnh dạn trong cách dùng người của Bác Hồ. Một vị chỉ huy như Nguyễn Bình, sau cách mạng xứng đáng được đứng vào hàng ngũ những người cộng sản mà sao phải đợi đến năm 1946 ! Chắc hẳn không phải Nguyễn Bình là người duy nhất trong số rất ít những người có khả năng đảm đương vai trò của ông vào thời điểm những buổi đầu của Nam Bộ kháng chiến mà Bác chỉ tin tưởng giao phó cho ông ‘’Bác giao Nam Bộ cho chú’’ ! Tất nhiên có rất nhiều lí do, nhưng ta có thể kể đến những lí do có tính chiến lược như : với tình trạng của Nam Bộ thời kì đầu của Nam Bộ kháng chiến, thì việc một người ngoài Đảng cộng sản sẽ có tiếng nói mạnh mẽ hơn đối với đông đảo đồng bào Nam Bộ vốn thời kì đó trong tình trạng ‘’cát cứ phân tranh’’ với nhiều màu sắc chính trị, đảng phái, tôn giáo…Mặc khác, vì là người ngoài Đảng cho nên ông sẽ ít bị mật thám Pháp để ý hơn. Thực tế lúc bấy giờ, quân Pháp không biết gì nhiều về ông. Quân Pháp tập trung vào việc tìm hiểu, điều tra các ông Trần Văn Giàu – Trưởng ban kháng chiến Nam Bộ, rồi ông Phạm Ngọc Thạch…mà ít chú ý đến tướng Nguyễn Bình, trong khi chính ông mặc dù chỉ là Ủy viên quân sự nhưng thực tế là người thiết kế, tổ chức kháng chiến…

Năm 2000, Bộ Tư lệnh quân khu VII đã di chuyển hài cốt ông về an táng tại nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh. Ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.



Thiếu tướng Trần Tử Bình, nhà ngoại giao quân sự

http://img171.imageshack.us/img171/3060/thieutuongtrantubinhch6.jpg
Thiếu tướng Trần Tử Bình (1907 – 11/2/1967), nguyên Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Tổng thanh tra Quân đội kiêm Phó Tổng thanh tra chính phủ, nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Là một trong 9 cán bộ đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh kí quyết định phong quân hàm Thiếu tướng.


Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất.

“Đồng chí Trần Tử Bình đã hoạt động không mệt mỏi và có những cống hiến quan trọng trong việc tăng cường mối tình hữu nghị chiến đấu anh em giữa nhân dân hai nước Trung - Việt” (Thủ tướng Chu Ân Lai)

“Anh là tấm gương sáng cho các thế hệ hiện nay và mai sau học tập. Tôi mãi mãi giữ những kỷ niệm và ấn tượng tốt đẹp về anh!”. (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

“Là một chương sử thời đại mà ông (Trần Tử Bình) đã sống, đã cống hiến một cách tận tụy và hóa thân cho một sự nghiệp lớn”. (Nhà Sử học Dương Trung Quốc)
Thiếu tướng Trần Tử Bình tên thật là Phạm Văn Phu sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo theo đạo Thiên Chúa tại xã Tiêu Động, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

Là một thanh niên công giáo theo học ở trường dòng, thông qua sách báo tiến bộ mà giác ngộ Cách mạng. Cuối năm 1926, vì tham gia phong trào vận động giáo sinh ở Chủng viện Hoàng Nguyên (thuộc giáo phận Hà Đông) để tang cụ Phan Châu Trinh cho nên ông bị đuổi học. Trên đường kiếm sống ông đã gặp nhà cách mạng Tống Văn Trân, đây là bước ngoặt lớn đối với ông, bước ngoặt đưa ông đến với Cách mạng đến với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân.

Lãnh đạo Phú Riềng đỏ

Giữa năm 1927, cùng với đoàn người đi phu đồn điền cao su vào Nam bằng tàu biển xuất phát từ cảng Hải Phòng, ông vào làm phu tại Phú Riềng. Ngay trong thời gian tại khu nhà tôn phường Hạ Lý (thành phố Hải Phòng), trong suy nghĩ của những người đi phu, ông đã trở thành người thủ lĩnh bởi tính tình thẳng thắn, hay giúp người và điều đặc biệt ông là người duy nhất trong số họ được học hành.

Tại Phú Riềng, Trần Tử Bình đã vạch trần những thủ đoạn bóc lột của giới chủ Pháp đối với người công nhân đồn điền cao su. Như : lợi dụng họ không biết chữ để dùng các hợp đồng lao động ràng buộc và bóc lột họ, nói một đằng và viết một nẻo. Cai thầu (Phan Tất Tạo) ăn chặn tiền của công nhân, bớt xén khẩu phần của dân phu…Với vai trò là người nêu vấn đề, ông đã phát động phong trào đấu tranh với giới chủ (tuyệt thực…) khiến cai thầu phải nhượng bộ.

Trong thời gian này, ông được nhà cách mạng Ngô Gia Tự giác ngộ thêm và kết nạp vào Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Đầu năm 1928, theo chỉ thị của Ngô Gia Tự, Nguyễn Xuân Cừ và Trần Tử Bình đi vào tổ chức quần chúng. Họ đã thiết lập Nghiệp đoàn Cao su Phú Riềng với thành viên là 1/3 tổng số những người lao động tại Phú Riềng.

Tháng 10/1929, chi bộ Cộng sản đầu tiên của Phú Riềng ra đời gồm 6 thành viên và ông chính thức trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương và là Bí thư chi bộ.

Ngày 30/1/1930 (đúng mùng Một Tết Canh Ngọ), dưới sự lãnh đạo của Trần Tử Bình, 5000 công nhân đồn điền đã tiến hành biểu tình và bao vây khu nhà của chủ đồn điền buộc giới chủ phải thực hiện những quyền lợi thiết yếu cho người công nhân. Tiếp đó họ đã chiếm giữ khu trại cưa, tước vũ khí của viên giám thị và viên cai, chiếm nhà máy điện, nhà máy cưa, kho gạo…Phú Riềng đặt trong quyền kiểm soát của công nhân.

Sáng ngày 6 tháng 2, thực dân Pháp huy động xe bọc thép, hơn 300 lính lê dương, 500 lính khố đỏ, do đích thân Thống xứ Nam Kỳ Krauheime, cùng Công sứ Biên Hòa Marty, Phó công sứ Biên Hòa Vilmont và Chánh mật thám Đông Dương Arnoux chỉ huy đã tiến tới khu vực đồn điền Phú Riềng. Sau đó, tuy phong trào đấu tranh của công nhân Phú Riềng bị đàn áp xong giới chủ buộc phải nhượng bộ một số yêu cầu của công nhân. Trần Tử Bình cùng những người lãnh đạo phong trào Phú Riềng đỏ bị bắt. Ông bị kết án 10 năm tù và bị đày ra Côn Đảo.

Tại Côn Đảo ông vẫn tiếp tục đấu tranh và học tập nâng cao lý luận cũng như kinh nghiệm hoạt động Cách mạng. Trong thời kì này ở ngoài Côn Đảo có rất nhiều những tù chính trị mà sau này trở thành những lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam như Tôn Ðức Thắng, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng…


Vượt ngục Hỏa Lò

Do ảnh hưởng của Mặt trận bình dân, năm 1936, ông được trả về đất liền và bị quản thúc ở quê nhà huyện Bình Lục, Hà Nam. Ông tiếp tục bí mật hoạt động và giữ các chức vụ như Bí thư huyện Bình Lục, Bí thư Tỉnh ủy.

Năm 1940, ông được bầu vào Xứ uỷ Bắc Kỳ và trực tiếp phụ trách Liên tỉnh C (Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình) rồi Liên tỉnh D (Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang) vào năm 1941. Thời kì này ông lấy bí danh là Minh.

Tháng 4 năm 1943, do phản bội chỉ điểm, hai ông Hoàng Văn Thụ và Vũ Kỳ bị bắt. Rồi tiếp đến, tháng 9 năm 1943, ông Phan Trọng Tuệ bị bắt, Trần Tử Bình chạy thoát. Tháng 12/1943, ông bị bắt ở Thái Bình. Sau khi vượt ngục không thành tại Hà Nam, thực dân Pháp chuyển ông về giam tại Hỏa Lò, Hà Nội. Tại đây ông bị tra khảo bằng cực hình nhưng vẫn giữ khí phách của người Cách mạng khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ thốt lên ‘’sợ cái gan cộng sản đó !’’.

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, cùng với chi bộ nhà tù Hỏa Lò do ông Đỗ Mười lãnh đạo, Trần Tử Bình đã tổ chức thành công hai đợt vượt ngục tập thể cho gần 100 tù chính trị thông qua đường cống ngầm. Đây chính là nguồn lực quan trọng chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám. Sau đó theo phân công ông về tổ chức và xây dựng chiến khu Hòa – Ninh – Thanh.

Tham gia lãnh đạo Cách mạng tháng Tám

Thực hiện chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", ngày 18/8/1945 ông Nguyễn Khang, Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa và Trần Tử Bình, thường vụ Xứ uỷ phụ trách Quân sự, đã quyết định khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội. Cuộc khởi nghĩa kịp thời đã làm thất bại âm mưu của Phát xít Nhật đưa tên Việt gian Nguyễn Xuân Chữ từ Sing-ga-po về thay Phan Kế Toại đã bỏ nhiệm sở từ hôm 17/8.

Ngày 19/8, khi lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện trước mặt tiền Nhà Hát Lớn, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quần chúng kéo đến Phủ Khâm sai (12 Ngô Quyền) và ngay khi cánh cổng lớn được mở ra, Trần Tử Bình đã xông lên, ra lệnh cho tự vệ bắt Nguyễn Xuân Chữ đưa về an toàn khu của Xứ ủy ở làng Vạn Phúc, Hà Đông. Sau đó hai ông Nguyễn Khang và Trần Tử Bình đã dùng tổng đài điện thoại trong Phủ Khâm sai ra lệnh cho chính quyền tay sai ở các tỉnh, huyện "Phải trao quyền ngay cho Việt Minh".

Đêm 19 rạng sáng 20/9/1945, Xứ uỷ quyết định thành lập Chính quyền Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Bắc Bộ và cử ông Nguyễn Khang làm Chủ tịch, đóng trụ sở ở Phủ Khâm sai (Bắc Bộ phủ). Trần Tử Bình tiếp tục hỗ trợ chỉ đạo các cuộc khởi nghĩa ở Hải Phòng, Hà Đông. Cuộc khởi nghĩa thành công ở Hà Nội đã nhanh chóng thúc đẩy các địa phương nổi dậy giành chính quyền và đưa Cách mạng tới thắng lợi trong cả nước…

Tướng quân Trần Tử Bình

Tháng 9 năm 1945, ông được giao nhiệm vụ Phó giám đốc, Chính trị uỷ viên Trường Quân chính Việt Nam (sau đổi tên là Trường Cán bộ Việt Nam). Tháng 5 năm 1946, ông nhận nhiệm vụ Phó giám đốc, Chính uỷ Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn.

Năm 1947, ông được đề bạt làm Phó bí thư Quân uỷ Trung ương, Phó Tổng thanh tra Quân đội. Thu đông 1947, Trần Tử Bình chỉ huy mặt trận Đường số 2 – Sông Lô, đập tan một trong hai gọng kìm của quân Pháp tiến quân lên Việt Bắc hòng bắt giữ cơ quan đầu não kháng chiến.

Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 112/SL phong hàm Thiếu tướng cho đồng chí Trần Tử Bình; ông trở thành 1 trong số 11 vị tướng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.1950-1956, ông nhận nhiệm vụ Chính uỷ Trường Lục quân Việt Nam tại Trung Quốc.

Là Phó tổng Thanh tra quân đội ông tham gia giải quyết những vụ án lớn như vụ “gián điệp ảo” H122, vụ tham nhũng của đại tá Trần Dụ Châu, Tổng cục trưởng Tổng cục cung cấp…

Tháng 2 năm 1951, ông được cử làm đại biểu quân đội dự Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam II tại Việt Bắc.

Thời gian 1956-1958, ông nhận nhiệm vụ Tổng thanh tra Quân đội, Phó tổng thanh tra Chính phủ, tham gia củng cố và trong sạch hoá chính quyền thời hậu chiến.

Năm 1960, ông được bầu làm đại biểu quân đội dự Đại hội Đảng III, và được bầu vào Ban chấp hành Trung ương. Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khoá II và khoá III.

Nhà ngoại giao Trần Tử Bình

Năm 1959, cách mạng nước ta đứng trước những thời cơ mới. Nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các nước anh em, đặc biệt là Trung Quốc và Liên Xô, Thiếu tướng Trần Tử Bình được cử làm Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc, và tại Mông Cổ.

Vào những năm 1960, Đại sứ Trần Tử Bình đã góp phần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lãnh Trung Quốc với cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam.

Thập niên 1960 quan hệ chính trị giữa Trung Quốc và Liên Xô, hai quốc gia bảo trợ cho Việt Nam trong cuộc nội chiến, trở nên rất căng thẳng. Lãnh đạo Trung Quốc đã có những thời điểm thể hiện sự không hài lòng về chính sách của Việt Nam đối với Liên Xô. Đoàn ngoại giao Việt Nam, đứng đầu là Đại sứ Trần Tử Bình, đã rất mềm dẻo và khôn ngoan giàn xếp ổn thoả những bất đồng và qua đó đã giúp cho Việt Nam tiếp tục nhận được sự ủng hộ to lớn từ Trung Quốc cũng như Liên Xô.

Trong một lần tháp tùng Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị thăm Trung Quốc, sau đàm phán, bạn đồng ý viện trợ một số lượng hàng hóa cho Việt Nam; trong đó có 2.000 xe vận tải ba cầu Giải Phóng.

Phía Việt Nam đề nghị bạn viện trợ thêm phụ tùng thay thế, do điều kiện chiến tranh ác liệt, hệ thống đường giao thông xấu, thường xuyên bị bom mìn... Phía bạn trả lời: Hiện tại không thể sản xuất kịp số phụ tùng thay thế.

Với uy tín và mối quan hệ tốt với các lãnh đạo Trung Quốc, Đại sứ Trần Tử Bình đã thay mặt đoàn vận động bạn và đề nghị: “Vậy các đồng chí viện trợ cho chúng tôi thêm 500 đến 1.000 xe nữa, nếu khó khăn thì có thể cấn trừ vào khoản khác. Khi cần chúng tôi có thể lấy phụ tùng của xe chưa sử dụng thay vào xe hỏng hóc”. Đề nghị này nhanh chóng được phía bạn chấp nhận.

Trong số 11 cán bộ được phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (tháng 1/1948), Thiếu tướng Trần Tử Bình có một tiểu sử khá đặc biệt. Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo theo đạo Thiên Chúa, từ con chiên được giác ngộ Cách mạng, từ một học sinh trường dòng tự giác tham gia và trưởng thành trong phong trào công nhân, ông trở thành một trong những đảng viên đầu tiên của Đông Dương Cộng sản Đảng (tháng 10/1929) tại Chi bộ Phú Riềng. Có lẽ trường hợp của Thiếu tướng Trần Tử Bình là trường hợp không phải nhiều đối với những người Công giáo.






Thượng tướng Nguyễn Hữu An, vị tướng trận mạc


http://img153.imageshack.us/img153/3103/thuongtuongnguyenhuuanlv1.jpg
Thượng tướng Nguyễn Hữu An (10/1926 – 9/4/1995) Phó Giáo sư Quân sự, nguyên Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, nguyên Phó Tổng thanh tra Quân đội, nguyên Tư lệnh Quân đoàn II.


Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì.


‘’Đó là một vị tướng tài, một vị tướng trung thành, trung thực, trung kiên’’ (Đại tướng Chu Huy Mân)


‘’Vị tướng trận mạc’’ (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)


“Bộ đội các ông thật tuyệt vời-một đối phương có sự chỉ huy tuyệt vời ở mọi cấp và có những người lính thiện chiến vì sự nghiệp, không bao giờ được đánh giá thấp...” (Tướng Mỹ Mo-rơ, nói về trận Iađrăng do tướng Nguyễn Hữu An trực tiếp chỉ huy)


Thượng tướng Nguyễn Hữu An sinh ra trong một gia đình dân nghèo yêu nước tại xã Trường Yên, huyện Gia Viễn (Hoa Lư), tỉnh Ninh Bình - đất kinh đô xưa của hai vị vua có công dẹp loạn cát cứ và chống giặc ngoại xâm (Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn).


Tháng 8/1945, ông gia nhập quân đội.


Năm 1949, tại đèo Bông Lau và Lũng Phầy (là hai đèo nối tiếp nhau nối liền giữa hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn), ông đã chỉ huy đơn vị mình (thuộc Trung đoàn 174 do Đặng Văn Việt làm Trung đoàn trưởng) đánh nhiều trận gây nhiều thiệt hại cho quân đội Pháp.


Năm 1950, trong chiến dịch Biên Giới, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 251 chủ công của Trung đoàn 174 (Trung đoàn Cao Bắc Lạng) đột phá trên hướng chủ yếu tiêu diệt đồn Đông Khê (18/9/1950), mở đầu thắng lợi cho chiến dịch. Đây là trận đánh được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm và trực tiếp động viên bộ đội chuẩn bị và lên đài quan sát xem xét tình hình quân địch vì đây là trận đánh có ảnh hưởng tiên quyết đến chiến dịch Biên Giới do Đông Khê là một cứ điểm quan trọng nhưng địch lại tương đối yếu. Trong khi tại Biên Giới giặc Pháp phòng thủ trên một đường biên giới dài, với lực lượng hạn chế không cho phép bộ đội tấn công trên suốt một chiều dài như vậy. Mất Đông Khê tuyến phòng thủ của Pháp trên đường số 4 sẽ bị cắt đôi. Đây chính là nghệ thuật ‘’Đánh điểm để khống chế diện’’ và ‘’Đánh điểm diệt viện’’Chiến thắng Đông Khê buộc thực dân Pháp phải tung 2 binh đoàn cơ động chiến lược Sác Tông và Lơ Pa-dơ lên cứu viện và bị tiêu diệt. Chiến thắng Biên Giới đã ‘’mở toang’’ biên giới với Trung Quốc nối liền cách mạng Việt Nam với cách mạng trên thế giới.


Sau chiến dịch Biên Giới, ông lần lượt là tiểu đoàn trưởng, trung đoàn phó trong các trận chiến thắng ở Bình Liêu, Vĩnh Phúc, Mộc Châu...


Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn chủ công (Trung đoàn 174) của sư đoàn 316, ông đã 3 lần chỉ huy đánh cứ điểm đồi A1. A1 là một cụm cứ điểm vào loại mạnh nhất ở hướng đông, “cánh cửa thép” của phân khu Trung tâm, nơi có sở chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. A1 đã từng được mệnh danh là “cái đinh” của chiến dịch, cho nên trận đánh gặp khó khăn ác liệt ngay từ đầu, Trung đoàn ông và Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ Đô) đã phải thay nhau đánh, giữ liên tục, kéo dài suốt từ 30-3 đến 7-5. Cuối cùng đã mở được “cánh cửa thép” để lực lượng từ hướng đông tiến công vào phân khu Trung tâm cùng các hướng khác, bắt sống tướng chỉ huy Đờ Cát, giành toàn thắng cho chiến dịch, lúc đó Nguyễn Hữu An mới 28 tuổi.


Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ông làm nhiệm vụ bảo vệ Tây Bắc. Năm 1962, ông lên đường giúp bạn Lào trong chiến dịch Mường Sinh, Luông Nậm Thà.


Năm 1964 trên cương vị Sư đoàn trưởng, ông dẫn Sư đoàn 325 vào miền Nam chiến đấu. Vào đến Tây Nguyên, do khó khăn về bảo đảm hậu cần và tình hình thay đổi, sư đoàn 325 phân tán; hai trung đoàn xuống khu 5, chỉ còn Trung đoàn 101 ở lại mặt trận Tây Nguyên (mang mã hiệu chiến trường B3), ông làm Phó Tư lệnh B3. Ông đã trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy Trung đoàn 101 diệt gọn tiểu đoàn biệt động “Cọp đen”, rồi lại đánh thiệt hại nặng trung đoàn 44 chủ lực quân lực Việt Nam Cộng hòa, diệt trung tá trung đoàn trưởng trung đoàn này.


Thời kì đó (1964 – 1965) ở chiến trường bắc Kon Tum rất cực khổ, bộ đội thường xuyên thiếu lương thực thực phẩm. Trong điều kiện như vậy, ông đã hạ quyết tâm đánh Tu Mơ Rông, một chi khu lớn của Kon Tum. Tướng Đoàn Khuê lúc đó là Chính ủy B3 lo rằng không đánh nổi, vì trung đoàn Ba Gia nổi tiếng, đã ở chiến trường lâu lúc đó còn chưa dám đánh công kiên một chi khu, Trung đoàn 101 mới vào chưa có kinh nghiệm nên cần phải suy nghĩ thật kỹ. Ông vẫn kiên trì giữ phương án đó và được Đảng ủy mặt trận B3 chấp thuận. Kết quả không những diệt được Tu Mơ Rông mà còn diệt luôn cả chi khu Đắc Tô, và chi khu Đắc Sút. Trong chiến tranh đặc biệt, cả Kon Tum có 5 chi khu và một tỉnh lỵ. Trong tay chỉ có một trung đoàn, đánh suốt năm 1965, quân số, đạn dược không có bổ sung, lương thực thì như vậy mà dám đánh và diệt được 3/5 chi khu của Kon Tum, đánh vỡ tan cả mảng bắc Tây Nguyên. Nếu Mỹ không vào thì Tây Nguyên vỡ rất nhanh.


Năm 1965, Thượng tá Nguyễn Hữu An là Tham mưu phó mặt trận B3 và tại đây, tháng 11 năm 1965, ông đã trực tiếp chỉ huy trận đánh nổi tiếng ở thung lũng Ia Đrăng trong chiến dịch Plây-me (chiến dịch đầu tiên mà Quân đội Nhân dân Việt Nam đụng độ với một số lượng lớn quân chủ lưc Mĩ đó là Lữ đoàn kỵ binh không vận số 3 có sự phối hợp của 1 trung đoàn Nam Triều Tiên, 1 chiến đoàn dù và 1 chiến đoàn thiết giáp Việt Nam Cộng Hòa), với cương vị Phó tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, ông đã cùng Bộ tư lệnh bày mưu, tạo thế, kéo quân Mỹ đến thung lũng Ia-đrăng rồi vận động bao vây tiến công liên tục trong 10 tiếng đồng hồ, tiêu diệt gần hết tiểu đoàn 1 và 1 đại đội của tiểu đoàn 2..., trận đánh phủ đầu và chiến thắng lực lượng kỵ binh bay của Mỹ khi quân Mỹ vừa vào Việt Nam, một trận thắng mà chính các tướng lĩnh của Mỹ phải thừa nhận "Ia Đrăng - trận đánh đã làm thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam".


Mùa mưa năm 1966, ông lại trực tiếp đi chỉ đạo đánh lại ở chiến trường bắc Kon Tum. Kế hoạch là vây đồn Tu Mơ Rông (địch đã đóng lại khi Mỹ vào) để diệt viện và sẵn sàng đánh Mỹ vì có tin Lữ đoàn dù 173 Mỹ sẽ tham chiến. Vây đồn Tu Mơ Rông được mấy ngày thì trung đoàn 44 chủ lực Việt Nam Cộng Hòa lên viện, xong cứ thập thò không vào sâu trận địa phục kích, ý kiến của Thường vụ Đảng ủy tiền phương và cơ quan tham mưu là cứ kiên trì diệt một bộ phận trung đoàn 44 cho chắc ăn, rồi sẽ quay lại đối phó với Mỹ. Riêng ông, sau một đêm suy nghĩ, đã quyết tất cả lực lượng vây đồn và diệt viện đều rút về bố trí ở khu tập kết cách trận địa khá xa. Mọi người tin ông, chấp hành, song vẫn thắc mắc, nếu địch không vào thì sao, đánh hết gạo về tay trắng hay sao? Nhưng khi bộ đội vừa bố trí xong, thì Mỹ ào ạt đổ trực thăng xuống. Chúng chắc mẩm, chủ lực ta đang bị hút vào mục tiêu quân ngụy, ở đây toàn là lực lượng hậu cần, nếu bóc hết hậu cần thì quân ta hết gạo, đạn, không đánh cũng tan và sẽ quay lại diệt chủ lực ta sau. Như vậy khác với Ia-đrăng, chúng không đổ thẳng quân vào đội hình quân ta để tìm diệt ngay từ đầu. Nhưng chúng đã lầm, rơi vào ổ kiến lửa, bị tiêu diệt rất nặng, tình cảnh cũng như ở Ia-đrăng.


Năm 1971, ông là Tư lệnh Sư đoàn 308 tham gia chiến đấu và góp phần cùng các đơn vị khác trong chiến thắng ở mặt trận đường 9-Nam Lào. Sau chiến thắng, ông lại được Quân ủy Trung ương điều sang giúp Mặt trận Pa thét Lào chiến đấu lấy lại Cánh đồng Chum, đánh quân Thái Lan và quân phỉ Vàng Pao. Với cương vị Phó tư lệnh thay mặt Tư lệnh mặt trận, trực tiếp chuẩn bị quyết tâm chiến dịch. Ông đã dành hai chục ngày, xuống kiểm tra, giúp đỡ các đơn vị phía trước, nhất là các trận địa phòng ngự cấp trung đội, đại đội. Ông cũng phát hiện ra điểm yếu rất lớn của địch là vận tải, tiếp tế chỉ dựa vào máy bay, thế là ông dùng pháo khống chế sân bay Cánh Đồng Chum, cắt tiếp tế, đẩy địch vào chỗ đói, thiếu, phải chuyển sang phòng ngự. Theo sự chỉ dẫn của ông, bộ đội biết cách tổ chức, xây dựng trận địa, biết đánh bằng nhiều loại hỏa khí, ở nhiều cự li, bằng nhiều cách chuyển từ chỗ nhùng nhằng, bị động, đã giành lại quyền chủ động và đã đánh thắng.


Đến cuối tháng 6 năm 1972, Quân ủy Trung ương lại điều ông chỉ huy Sư đoàn 308 chiến đấu ở mặt trận Quảng Trị.


Năm 1975, trên cương vị Thiếu tướng, Tư lệnh Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang), ông đã xuất sắc chỉ huy Quân đoàn của mình trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.


Trong chiến dịch Huế Đà Nẵng (từ 21/3 đến 29/3 năm 1975), Quân đoàn 2 do ông chỉ huy đã cùng với Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5 băm nát đội hình Quân đoàn 1-Quân khu 1 Việt Nam Cộng Hòa, khiến gần 10 vạn quân Việt Nam Cộng Hòa phải tan tác tháo chạy, bỏ cả căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng.


Với khí thế tiến công thần tốc, Quân đoàn ông lại ập tới phá vỡ tuyến phòng thủ Phan Rang (16/4/1975), áp sát Xuân Lộc, thọc vào trung tâm Sài Gòn từ hướng Đông-Nam, chiếm và cắm cờ trên Dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn, buộc Tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện (30-4-1975).


Chiến tranh biên giới Tây Nam, ông lại chỉ huy Quân đoàn đi bảo vệ biên giới Tổ quốc, rồi cùng các đơn vị khác tiến vào sào huyệt của chế độ diệt chủng Pôn Pốt, giải phóng Cam-pu-chia, cứu nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng (7-1-1979)...


Đất nước và biên giới trở lại bình yên, ông rời quân đoàn, đi làm Phó tổng Thanh tra quân đội, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng quân khu, rồi quyền tư lệnh Quân khu 2 (1984-1987).


Từ năm 1988 đến cuối đời (1995), ông làm Viện trưởng Học viện Lục quân, rồi Học viện Cấp cao (sau là Học viện Quốc phòng).


Thượng tướng Nguyễn Hữu An là một vị tướng trận mạc. Ông tham gia trọn vẹn cả ba cuộc kháng chiến: chống Pháp, chống Mỹ và chống chế độ diệt chủng Pôn Pốt xâm lược, trải qua 50 năm làm “Lính Cụ Hồ” - vừa tròn nửa kỉ.Vào bộ đội, ông không được ưu ái gì đặc biệt, chiến đấu, công tác ở 26 đơn vị, qua các chức vụ từ trung đội phó đến quyền Tư lệnh Quân khu, Viện trưởng một học viện lớn nhất toàn quân, với cấp hàm Thượng tướng, Phó Giáo sư Khoa học Quân sự. Ông đã đánh hàng trăm trận và tham gia chỉ huy nhiều chiến dịch có ý nghĩa chiến lược quyết định chuyển giai đoạn cho cuộc kháng chiến của dân tộc.


Thượng tướng Nguyễn Hữu An là một người chỉ huy có tầm nhìn chiến lược, một vị chỉ huy quyết đoán và nhạy bén trong xử lý tình huống thực tiễn của chiến trường, lý luận của ông có sức thuyết phục cao. Ông là một người rất hiểu cán bộ cấp dưới của mình, chính ông cũng là người ‘’cứu’’ Anh hùng Lê Xuân Phôi khỏi ‘’án oan’’ Anh hùng cá nhân. Ông cũng là một vị chỉ huy gan dạ, thấy đúng là làm không hề quan tâm đến miệng lưỡi thiên hạ ‘’ Ai nói kệ họ, mình không nằm xuống vì có hai lý do: thứ nhất chúng mình đã thoát ly công sự, nó ném bom kiểu rải thảm, đứng hay nằm, bị trúng là chết thôi; thứ hai nghe tiếng đồn B52 rất ghê, nay bị đánh lần đầu, mà Tư lệnh đã rúc đầu xuống thì tiếng vang khắp mặt trận, anh em chả ai xông lên nữa đâu. Vì trách nhiệm chính trị mà mình đứng nhìn nó thôi, chứ ai mà chả muốn sống, tớ cũng vợ đẹp, con khôn như cậu”


Chiến tích là thế song ông vẫn sống giản dị, khiêm nhường, trọng tổ chức, trọng tình người, trọng con người và có kỷ luật. Đọc hồi ký của ông, có khá nhiều lần ông khen đồng đội: nào Lã Ngọc Châu là chính ủy trung đoàn giỏi, đã chỉ huy trung đoàn như một trung đoàn trưởng thực thụ..., nào Nguyễn Ngọc Thực là một chủ nhiệm hậu cần quân đoàn có tài năng và trách nhiệm..., nào các mũi tiến công của quân ta đã hiệp đồng tuyệt đẹp và ăn khớp... Rõ ràng với ông, vai trò quyết định tất cả là đơn vị, là “anh em”, là tập thể chỉ huy, trong đó có mình.



Thượng tướng Vũ Lăng, vị tướng hổ lửa
Thượng tướng Vũ Lăng (sinh 4/8/1921 – mất 1988), Giáo sư Khoa học Quân sự, nguyên Viện trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Lục quân Đà Lạt, nguyên Tư lệnh Binh đoàn Tây Nguyên và Phó Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên, nguyên Cục trưởng Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công 2 hạng Nhất 1 hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba.

Thượng tướng Vũ Lăng tên thật là Đỗ Đức Liêm, ông sinh ra tại xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, ngoài thành Hà Nội trong một gia đình yêu nước, sớm giác ngộ Cách mạng. Năm 16 tuổi ông là thợ rồi sau đó là y tá tại Bệnh viện Phủ Lý tỉnh Hà Nam.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được cử đi học ở Trường Quân chính Việt Nam (khóa 5). Tháng 11 - 1945, theo lời kêu gọi của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông tham gia đoàn quân Nam tiến vào nam Trung Bộ chiến đấu, được cử làm chỉ đạo viên trung đội, sau đó là Phó ban huấn luyện khu 6, rồi Phó ủy viên quân sự Ninh Hòa.

Tháng 6 - 1946, ông ra Bắc, được cử làm đội phó bảo vệ Bắc Bộ phủ (Hà Nội). Trên cương vị mới, ông luôn gương mẫu, lãnh đạo anh em, một lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Hà Nội, ông đã có nhiều thành tích và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) tháng 2 -1947.


Sau cuộc rút lui an toàn không mất một người lính, một khẩu súng nào vào đêm 17 tháng 2 năm 1947 của trung đoàn Thủ đô ra vùng tự do, Vũ Lăng là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 54, trung đoàn Thủ đô (E102), đại đoàn 308. Ông đã chỉ huy tiểu đoàn trong trận hạ đồn Đại Bục, mở màn chiến dịch tấn công vào phòng tuyến sông Thao, đúng ngày sinh nhật của chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1949. Từ năm 1947 đến năm 1954, ông tham gia các chiến dịch Việt Bắc. Sông Thao, Biên Giới, Trung Du, Hoàng Hoa Thám, Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào.


Từ năm 1953 ông là trung đoàn trưởng trung đoàn 98, đại đoàn 316, đồng thời là tham mưu trưởng Đại đoàn. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trung đoàn 98 do Vũ Lăng chỉ huy, là một trong các Trung đoàn chủ lực, đã thắng trong trận đánh đồi C1 góp phần quan trọng vào chiến thắng của chiến dịch.


Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, đầu năm 1956 ông được lựa chọn cử đi học tập tại Học viện cao cấp Bộ Tổng tham mưu (Liên Xô) mang tên Vô-rô-xi-lốp. Ông đã cùng đồng đội hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và trở về nước cuối năm 1959 và được cử làm Cục phó Cục nghiên cứu khoa học quân sự Bộ Tổng tham mưu.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trước muôn vàn khó khăn, thử thách, trên các cương vị công tác khác nhau, lúc ở cơ quan tham mưu chiến lược, khi ở các bộ tư lệnh chiến trường, ông luôn thể hiện là một cán bộ quân sự có năng lực tư duy sáng tạo, nhạy bén trong tổ chức chỉ huy và tính quyết đoán chịu trách nhiệm cao trước tập thể, lãnh đạo, chỉ huy cơ quan đơn vị. Trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (năm 1965-1967), được Bộ Quốc phòng điều động và làm Phó tư lệnh Quân khu 4. Đến nơi chiến trường đang diễn ra cuộc chiến tranh phá hoại rất ác liệt của đế quốc Mỹ, ông đã cùng với tập thể Bộ tư lệnh quân khu xây dựng phương án tác chiến, đẩy mạnh các hoạt động chiến đấu, đánh thắng máy bay và tàu chiến Mỹ. Bên cạnh đó, ông còn cùng Bộ Tư lệnh Quân khu 4 đào tạo được nhiều cán bộ chỉ huy bổ sung cho chiến trường miền Nam.

Thực hiện chủ trương về kiện toàn đội ngũ cán bộ chỉ huy cao cấp trong quân đội và chuẩn bị các phương án tác chiến với quân Mỹ, cuối năm 1967 ông chuyển về Bộ và được cử làm Cục phó rồi Cục trưởng Cục tác chiến. Trên cương vị công tác ở cơ quan tham mưu chiến lược, với tư duy khoa học, năng động, sáng tạo quyết đoán và dầy dặn kinh nghiệm, ông đã đầu tư trí tuệ và có những đóng góp to lớn trong quá trình xây dựng các phương án tác chiến, góp phần vào thắng lợi lớn của quân đội ta trên hai miền Nam Bắc.


Năm 1974, theo yêu cầu của chiến trường, Thiếu tướng Vũ Lăng được cử vào giữ chức Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên. Cùng với tập thể Đảng ủy Bộ Tư lệnh mặt trận, ông đã triệt để chấp hành sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy trung ương, phát huy tính sáng tạo của mình cùng lãnh đạo mặt trận đề xuất ý kiến với Bộ và tiến hành tốt nhất công tác chuẩn bị và chỉ huy trận mở màn then chốt quyết định Buôn Ma Thuột. Tháng 3 - 1975, ông là Phó tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên và Tư lệnh binh đoàn Tây Nguyên. Ở cương vị mới trên chiến trường ông luôn gương mẫu, chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, các chỉ thị mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, luôn đặt lợi ích của cách mạng lên trên, giữ vững tính nguyên tắc của Đảng, cùng tập thể đơn vị xây dựng phương án tác chiến tối ưu, chỉ huy bộ đội chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc. Tiếp đó, Bộ Tư lệnh binh đoàn Tây Nguyên chỉ huy binh đoàn tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy, góp phần quan trọng giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


Bước vào thời kỳ cả nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, năm 1977, trên cương vị mới là Viện trưởng và Bí thư Đảng ủy Học viện Lục quân, ông đã cùng Đảng ủy và Ban Giám hiệu Học viện lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng học viện đi vào nền nếp và ngày càng vững mạnh về mọi mặt.


Với kinh nghiệm về xây dựng quân đội đã tích lũy được trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông đã có nhiều đóng góp trong nghiên cứu đào tạo, bổ túc cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn và phát triển khoa học quân sự. Ông chỉ đạo biên soạn một hệ thống tài liệu với khối lượng lớn, đáp ứng kịp thời đầy đủ cho công tác huấn luyện của tám chuyên ngành binh chủng lục quân. Những tài liệu được Hội đồng khoa học Học viện thông qua có nhiều ý kiến đóng góp và kết luận rất sâu sắc của ông, góp phần rất quan trọng trong nghiên cứu, giảng dạy ở Học viện và cả các nhà trường Quân đội.


Trong suốt những năm công tác tại Học viện Lục quân, ông đã đem hết khả năng, trí tuệ của mình để cùng với Ban Giám đốc Học viện triển khai nghiên cứu thành công nhiều công trình, đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ Quốc phòng có tác dụng đối với việc xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Năm 1980, Thiếu tướng Vũ Lăng được thăng quân hàm Trung tướng, năm 1986, được thăng quân hàm Thượng tướng. Thượng tướng Vũ Lăng đã được Nhà nước phong học hàm Giáo sư khoa học quân sự đợt đầu tiên trong quân đội.


Ông là một trong những vị tướng nóng tính của Quân đội Nhân dân Việt Nam, chính vì vậy mà người ta thường gọi ông là tướng Hổ Lửa. Nóng tính nhưng ông lại rất biết chú ý lắng nghe ý kiến của người khác. Một người có tác phong xuề xòa với đồng cấp và cấp dưới đặc biệt là lính tráng. Thế nên mới có chuyện trong chiến dịch Điện Biên Phủ ông bị Đại tướng Võ Nguyên Giáp ‘’đuổi’’ ra khỏi cuộc họp các Trung đoàn trưởng và Sư đoàn trưởng để ‘’chỉnh đốn tác phong’’ hay có chuyện ‘’lính 2 râu (lính thuộc Trung đoàn 66) sờ râu tư lệnh’’ khi ông được điều vào làm Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên.


Ông là một vị tướng có học vấn cao, kiến thức rộng rất yêu văn nghệ và có năng khiếu làm thơ. Trong lần nhận lệnh vào Chiến trường Tây Nguyên đánh Mỹ ông làm bài thơ ‘’Ta lại ra đi’’ nói về vị tướng đã 50 tuổi vẫn hăng hái lên đường ra trận. “Vào nơi lửa cháy bốn bề. Miền Nam lại gọi ta về, bạn ơi!”. Xem ra, thơ ông còn đầy sức trẻ và khoáng đạt lắm:

“Tám chục tuổi vẫn còn lên ngựa

Múa gươm xung trận giữa ba quân

Tướng quân Thường Kiệt tên lừng lẫy

Giặc kia nghe thấy chạy thục thân.


Ta năm nay mới năm mươi lẻ

Tóc dẫu pha sương lòng còn trẻ

Miền Nam tiếng súng còn chưa ngớt

Luống thẹn mình nghe chuyện

người xưa.


Ba lô, gậy cũ lên đường

Vai khoác ba lô lòng trẻ lại

Đầu xanh, đầu bạc kề vai bước

Lại thấy trong ta tuổi đôi mươi”.

Thư của ông những năm tháng ở chiến trường gửi cho bà Hoàng Việt Hoa vợ ông có thể xếp đầy một hòm. Một phần trong số này đã được giới thiệu đăng trong tập ‘’Thơ tình từ chiến hào’’.


Dáng người tầm thước, da trắng và bộ râu quai nón, tướng Vũ Lăng là một trong những tướng ‘’tốt râu’’. Ông là nguyên mẫu của nhân vật Văn Việt trong tác phẩm ‘’Sống mãi với Thủ đô’’ của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Là một chỉ huy tài tình xong ông còn là một người lĩnh dũng cảm. Trong trận chiến đấu ở đồi C1 tại Điện Biên Phủ năm 1954, khi ông chỉ huy Trung đoàn từ chiến hào xông lên đánh giáp lá cà với quân Pháp. Tiếng thét xung phong của ông khiến cho viên chỉ huy Pháp khựng lại, tạo điều kiện cho quân ta xông lên tiêu diệt địch. Thượng tướng Vũ Lăng và Thượng tướng Nguyễn Hữu An là một cặp bài trùng từ những trận đánh ở Điện Biên Phủ cho đến những trận đánh ở Chiến trường Tây Nguyên rồi Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

JeryPhu
10-10-2012, 01:25 PM
Trung tướng Lê Văn Tưởng, lão tướng của Nam Kỳ khởi nghĩa

http://img440.imageshack.us/img440/3538/trungtuonglevantuongeh7.jpg
Trung tướng Lê Văn Tưởng (Bí danh Lê Chân hay còn gọi là Hai Chân hay Hai Lê) (10/1919-15h45’25/7/2007), nguyên Phó Ban kiểm tra Quân ủy Trung ương Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Chính ủy Quân khu 9, nguyên Chính ủy Cánh quân Tây Nam trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nguyên Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Cục chính trị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên Chính ủy Sư đoàn 9.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhất Nhì Ba, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu thành đồng Tổ quốc và nhiều huân huy chương khác.

Ông được phong Quân hàm Thiếu tướng năm 1974, Trung tướng tháng 12 năm 1984.

Trung tướng Lê Văn Tưởng sinh tháng 10 năm 1919 tại xã Thạnh Lợi, huyện Thủ Thừa, tỉnh Tân An, nay là huyện Bến Lức tỉnh Long An, trong một gia đình nông dân nghèo có truyền thống yêu nước. Ông nội ông là nghĩa quân Thiên Địa Hội từ trước năm 1930. Cha ông tham gia hội kín của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, về sau gia nhập Đảng Cộng sản. Gia đình không có ruộng. Cha ông liên tục vào tù ra khám. Nhà tới chín người con, là con đầu ông phải sớm lăn lộn cuốc mướn làm thuê, vào rừng hái củi về đổi gạo, phụ giúp mẹ nuôi các em. Truyền thống yêu nước của gia đình cùng những cảnh bất công do cường hào gây ra ở miền sông nước đã nhen nhóm trong lòng Lê Văn Tưởng sự căm hờn và hoài bão phải làm điều gì đó cho người dân nghèo quê hương.

Mười bảy tuổi, ông được giác ngộ và làm liên lạc cho cách mạng trong phong trào Đông Dương đại hội. Nhờ sức vóc vạm vỡ và tính khí can trường, ông nhanh chóng chiếm được niềm tin của những bậc cha chú đi trước và được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng. Năm 1938, tại một cuộc biểu tình đấu tranh ở Tân An trong phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, ông bị thực dân Pháp bắt giam sáu tháng ở khám Mỹ Tho. Ra tù về lại quê tiếp tục hoạt động bí mật trong phong trào Nông hội đỏ, ông tham gia chỉ huy quân sự xã, tháng 6 năm 1940 ông chính thức đuợc kết nạp Đảng Cộng sản.

Ngày 23 tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ. Ông là thành viên nòng cốt đội du kích xã Thạnh Lợi cùng nhân dân đứng lên cướp chính quyền. Giống như tình hình chung ở toàn Nam Kỳ, cuộc khởi nghĩa ở xã Thạnh Lợi biểu thị được lòng yêu nước, gây tiếng vang, nhưng rồi nhanh chóng bị thực dân Pháp đàn áp. Càng ngày chúng càng bao vây, lùng sục, khủng bố dã man. Nhiều chiến sĩ bị bắt thủ tiêu. Nhà của Lê Văn Tưởng cùng mấy chục căn nhà khác ở Thạnh Lợi bị đốt cháy trụi. Gia đình phải bỏ trốn đi nơi khác làm ăn sinh sống. Cả Nam Kỳ chìm trong máu lửa của khủng bố trắng. Ông cùng một số chiến sĩ cộng sản rút vào bưng biền củng cố và xây dựng lực lượng chuẩn bị chiến đấu lâu dài.

Khoảng một tháng sau, đội du kích Thạnh Lợi do ông chỉ huy tổ chức tấn công đồn điền mía Hiệp Hòa ở xã Hòa Khánh, huyện Đức Hòa. Trận công đồn bất ngờ này đã gây tiếng vang lớn cả vùng, du kích đã thu đuợc một khẩu súng ngắn 6,35 ly của tên đồn trưởng. Đây là khẩu súng sản xuất ở Tiệp Khắc do tên đồn trưởng lê dương lấy được trong Chiến tranh thế giới thứ nhất khi sang chiến trường Đông Âu. Ông được đội du kích xã Thạnh Lợi giao sử dụng khẩu súng 6,35 ly chiến lợi phẩm.

Đầu năm 1941, trong một lần ông cùng đội võ trang từ bưng biền về xã Thạnh Lợi công tác, bất ngờ bị tên Hương quản Chánh cùng Hương tuần Tám tấn công. Hương quản Chánh là tên tay sai có nhiều nợ máu ở địa phương sau khi khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại. Chính tay ông đã dùng khẩu súng 6,35 ly cướp được ở Hiệp Hòa bắn chết Hương quản Chánh. Sau đó, do một du kích quân đầu hàng địch khai báo về cái chết của Hương quản Chánh, Tòa Áo đỏ (tòa đại hình) của chính quyền thực dân Pháp ở Sài Gòn đã kết án ông "tử hình khiếm diện".

Tháng 4 năm 1945, ông tham gia công tác xây dựng cơ sở huyện Thủ Thừa. Trong Cách mạng Tháng Tám, ông được phân công lãnh đạo khởi nghĩa ở huyện Thủ Thừa. Sau đó, với tư cách ủy viên quân sự huyện, ông thành lập lực lượng dân quân cách mạng, trang bị bằng vũ khí thu được từ các đồn bót giặc. Đây là lực lượng dân quân cách mạng duy nhất ở tỉnh Tân An sau cách mạng. Quân Pháp núp bóng quân đồng minh tái xâm lược, Nam bộ kháng chiến, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Tân An, tiếp tục tổ chức chỉ huy bộ đội chiến đấu.

Tháng 12 năm 1945, ông là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Tân An và là Chỉ huy trưởng bộ đội liên quân Chợ Lớn-Tân An.

Đầu năm 1946, hai lần thủ lĩnh du kích quân Lê Văn Tưởng đón tiếp Trần Văn Trà - Chính trị viên Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa từ Gia Định xuống Tân An tìm cách thành lập Chi đội 14, rồi xây dựng căn cứ địa Đồng Tháp Mười. Cuộc gặp gỡ này cũng chính là mối duyên kỳ ngộ mở đầu cho tình bạn chiến đấu keo sơn giữa hai vị tướng Tư Chi - Trần Văn Trà và Hai Chân -Lê Văn Tưởng trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Lúc Chi đội 14 mới hình thành, ông Trần Văn Trà làm chi đội trưởng, Lê Văn Tưởng và ông Nguyễn Văn Siêu làm chi đội phó, ông Nguyễn Đức Huy làm chính trị viên.

Năm 1949, sau khi ông Trần Văn Trà được Trung ương cử làm Khu bộ trưởng Khu 8, Chi đội 14 chuyển thành Trung đoàn 120. Ông Nguyễn Công Trung, nguyên bí thư Xứ ủy Nam Kỳ được điều về làm trung đoàn trưởng, ông Lê Quốc Sản làm trung đoàn phó, ông làm trưởng ban tác chiến. Trung đoàn 120 đã tổ chức đánh địch nhiều trận và giành nhiều thắng lợi ở Tân An, Mỹ Tho, Gò Công,... Sau đó, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 358, Liên trung đoàn 120-105, Phó Bí thư liên Liên chi và Trung đoàn ủy viên.

Từ tháng 2 năm 1950 đến tháng 9 năm 1955, ông lần lượt giữ các chức vụ Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Tân An, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Đồng Tháp, Huyện đội trưởng Huyện đội Mộc Hóa, Chính trị viên Tiểu đoàn rồi Trung đoàn Mỹ Tho, Trung đoàn Ủy viên. Sau đó, ông giữ chức vụ Trưởng ban tổ chức Phân liên khu miền Đông Nam Bộ.

Cho đến năm 1954, Hiệp định Genève ký kết, chuyển quân ra Bắc, tháng 10/1955, ông làm chính ủy Trung đoàn 556 thuộc Sư đoàn 330, Bí thư Trung đoàn ủy rồi sau đó là chủ nhiệm chính trị sư đoàn.

Tháng 3 năm 1957, ông theo học trường Nguyễn Ái Quốc. Năm 1960, ông là Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 330, Thường vụ Phó bí thư Đảng ủy Sư đoàn.

Ngày 7 tháng 5 năm 1961, ông được Quân ủy Trung ương phân công trở về Nam chiến đấu. Đoàn Phương Đông 1 do ông Trần Văn Quang làm trưởng đoàn, ông Trần Nam Trung làm chính ủy, ông làm phó chính ủy và các phó trưởng đoàn là các ông: Trần Đình Xu, Đào Sơn Tây, Nguyễn Vọng, Trần Hoài Pho đã bí mật vượt Trường Sơn, sau ba tháng về đến Mã Đà thuộc Chiến khu Đ. Ông được cử làm Chủ nhiệm chính trị Ban chỉ huy Quân sự miền.

Trong thời gian này, ông là Chính ủy Mặt trận Bình Giã rồi Phó Chính ủy Chiến dịch Đồng Soài. Sau thắng lợi của hai chiến dịch Bình Giã cuối năm 1964 (?) và Phước Long- Đồng Xoài giữa năm 1965, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định xây dựng quả đấm chủ lực cho các lực lượng võ trang để đối phó với quân Mỹ - Ngụy. Sư đoàn 9 - sư đoàn chủ lực đầu tiên của B2 ra đời vào ngày Quốc khánh 2 tháng 9 năm 1965 bên bờ suối Nhung thuộc địa phận Phước Thành với sự tham dự của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ- Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh- bí thư Trung ương Cục kiêm chính ủy Miền, Trung tướng Trần Văn Trà- tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam. Sư đoàn 9 trên cơ sở ba trung đoàn, do Hoàng Cầm làm sư đoàn trưởng, Lê Văn Tưởng làm chính ủy, Nguyễn Hòa làm sư đoàn phó, Hoàng Thế Thiện làm phó chính ủy, Nguyễn Thế Bôn làm tham mưu trưởng.

Cuối tháng 9 năm 1965, Sư đoàn 9 triển khai phương án tấn công Dầu Tiếng, một vị trí chiến lược quan trọng ở Đông Nam bộ. Tư lệnh Trần Văn Trà đích thân xuống tận sở chỉ huy sư đoàn giao nhiệm vụ và bàn bạc cụ thể cả phương án hai đánh Mỹ- đối tượng tác chiến mới trên chiến trường Đông Nam bộ vừa triển khai ba lực lượng lớn. Đó là Sư đoàn bộ binh số 1 mang biệt danh "Anh cả đỏ" đóng ở căn cứ Lai Khê thuộc tỉnh Bình Dương, với 17.530 quân, phiên chế thành ba lữ đoàn, năm tiểu đoàn pháo binh 105 và 155 ly, một tiểu đoàn và hai đại đội không quân cơ động. Tiếp đến là Sư đoàn bộ binh cơ giới số 25 biệt danh "Tia chớp nhiệt đới" đóng tại căn cứ Đồng Dù thuộc đất Thép Củ Chi, gồm 17.666 quân phiên chế thành mười hai tiểu đoàn bộ binh cơ giới, ba tiểu đoàn thiết giáp, sáu tiểu đoàn pháo 105 và 155 ly, một tiểu đoàn không quân và nhiều đơn vị hậu cần. Thứ ba là Lữ đoàn dù 173 (cơ động bằng máy bay lên thẳng) đóng ở Biên Hòa, gồm 4.313 quân phiên chế thành bốn tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo 105 ly.

Chiến dịch Bầu Bàng- Dầu Tiếng là trường hợp hiếm hoi, khi một chiến dịch phải chuẩn bị song song hai phương án chiến đấu với hai đối tượng là quân Mỹ và lính ngụy Sài Gòn. Trong lúc Sư đoàn 9 triển khai kế hoạch đánh Dầu Tiếng, thì Tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam là tướng Westmoreland đã ra lệnh cho Sư đoàn 1- "Anh cả đỏ" đang đóng tại căn cứ Lai Khê gấp rút mở cuộc hành quân vào Dầu Tiếng để giải tỏa cho quân ngụy ở đây đang bị quân giải phóng uy hiếp, đồng thời "tìm diệt" bộ đội chủ lực là Sư đoàn 9 mà chúng phát hiện đang đứng chân khu vực phía Bắc và Tây Bắc Sài Gòn. Quân Mỹ có hai tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 3 của Sư đoàn 1, được tăng cường thêm hai tiểu đoàn xe tăng và thiết giáp, một đại đội pháo hành quân từ Lai Khê lên đóng thành hai cụm ở Đồng Sổ và Bầu Bàng.

Để giữ thế chủ động, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 quyết định tiến hành phương án hai đánh Mỹ ở Bầu Bàng. Sở Chỉ huy sư đoàn dời về suối Đòn Gánh để tiếp cận trận địa. 5 giờ 30 sáng ngày 12 tháng 11 năm 1965, Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 1 nổ súng phát hiệu lệnh tấn công. Bộ binh địch bị bất ngờ, co cụm chống trả, phi pháo bắn ra như mưa. Máy bay B.52 đến rải bom dọc đường 13 để dọn đường cho bộ binh vào Dầu Tiếng. Cuộc chiến diễn ra ác liệt kết thúc vào khoảng gần 9 giờ sáng. Lần đầu quân Mỹ bị thiệt hại khá nặng, với hai tiểu đoàn, hai chi đoàn thiết xa vận, gồm 2.000 quân bị loại khỏi vòng chiến, 8 khẩu pháo cùng 39 xe mà phần lớn là tăng và thiết giáp bị phá hủy. Tuy nhiên, phía quân giải phóng cũng tổn thất khá lớn với hơn 100 chiến sĩ hy sinh và gần 200 người bị thương để giành lấy chiến thắng rất có ý nghĩa trong buổi đầu đánh Mỹ, rút ra được nhiều bài học quí báu cho cuộc chiến đấu gian khổ lâu dài. Sau trận đánh này, Sư đoàn 9 anh hùng đã được tặng Huân chương Quân công hạng Nhất.

Sau trận mở màn bằng thắng lợi của chiến dịch Bầu Bàng- Dầu Tiếng, Sư đoàn 9 do Sư trưởng Hoàng Cầm và Chính ủy Lê Văn Tưởng chỉ huy tiếp tục lập nhiều chiến tích qua các trận đánh lẫy lừng: Nhà Đỏ- Bông Trang, Cần Đâm, Cần Lê... và đặc biệt là chống trả cuộc hành quân lớn Junction City của quân Mỹ và chư hầu.

Từ tháng 2 năm 1966, theo chỉ thị của Trung ương Cục, Bộ Chỉ huy tiền phương thống nhất được thành lập làm nhiệm vụ chỉ huy ba thứ quân chiến đấu ở phía bắc Sài Gòn, bảo vệ an toàn Chiến khu Đ nơi có cơ quan đầu não của ta cùng nhiều kho tàng chiến lược. Hoàng Cầm được cử làm chỉ huy trưởng, Lê Văn Tưởng làm chính ủy, ông Nguyễn Hồng Lâm làm chỉ huy phó, ông Hoàng Thế Thiện làm phó chính ủy, với lực lượng gồm Sư đoàn 9, Tiểu đoàn Phú Lợi, các đơn vị vũ trang tập trung và du kích cơ quan Bộ Tư lệnh Quân khu miền Đông. Liền ngay sau đó, vào tháng 3 năm 1966, tướng Mỹ Westmoreland lại mở cuộc hành quân mang tên "Thành phố bạc" nhắm đánh phá càn quét vùng đất thánh Chiến khu Đ, với lực lượng huy động gồm Lữ đoàn 2 thuộc Sư đoàn 1- "Anh cả đỏ" và một tiểu đoàn quân Úc. Trước sự chủ động chống trả của quân giải phóng, mà chủ lực là Sư đoàn 9 với các trận tập kích ở sở cao su Phú Lương, dốc Bà Thức trên đường 16 và ở Bầu Sắn, quân Mỹ cũng đã bị nhiều thiệt hại, trong đó có năm máy bay lên thẳng bị bắn rơi...

Khi Sư đoàn 9 được điều lên mở chiến dịch Lộc Ninh thì Sư trưởng Hoàng Cầm được rút về làm phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Miền. Chính ủy Lê Văn Tưởng và Tham mưu phó Tạ Minh Khâm được giao trực tiếp chỉ huy chiến dịch. Nhiệm vụ hoàn thành, Lê Văn Tưởng được điều động về làm thường trực Quân ủy Miền, chủ nhiệm chính trị, phó chính ủy Bộ Tư lệnh Miền chỉ huy phối hợp toàn chiến trường.

Từ năm 1967 đến năm 1970, ông lần lượt giữ các chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh miền, Ủy viên quân ủy miền kiêm Bí thư, Chính ủy Khu Đông Bắc, Bí thư kiêm Chính ủy Chiến dịch Chen-La 2. Tháng 9 năm 1972, ông là Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Tháng 4 năm 1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh quyết định cử tướng Lê Văn Tưởng làm chính ủy và tướng Lê Đức Anh làm tư lệnh cùng sát cánh bên nhau chỉ huy thống nhất hai cánh quân hướng tây và nam tiến vào giải phóng Sài Gòn, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước...

Tháng 5 năm 1976, ông được cử làm Chính ủy Quân khu 9, Phó Bí thư Quân ủy.

Từ tháng 5 năm 1978, ông là Phó trưởng ban Kiểm tra quân sự Trung ương. Tháng 5 năm 1984, ông là Ủy viên chuyên trách Ủy ban kiểm tra Đảng thuộc Tổng cục chính trị. Tháng 1 năm 1986,ông là Ủy viên thường trực Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương đến tháng 11 năm 1987 thì ông về hưu.

Từ một du kích quân tham gia Nam Kỳ khởi nghĩa, bị địch kết án tử hình vắng mặt, Lê Văn Tưởng đã trở thành một vị tướng chiến trường dày dạn trận mạc, từng giữ nhiều trọng trách: chính ủy Sư đoàn 9, phó chính ủy kiêm chủ nhiệm Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, chính ủy cánh quân Tây Nam trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, chính ủy Quân khu 9, phó Ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương,... Ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh cùng nhiều huân huy chương công trạng. Cuộc đời gian lao và sôi động của lão tướng Lê Văn Tưởng là một trong những hình ảnh điển hình nhất cho người nông dân Nam bộ yêu nước thế kỷ XX khi Tổ quốc còn chìm đắm trong bóng đen ngoại xâm.




Đại tướng Văn Tiến Dũng, vị tướng chiến lược
http://img329.imageshack.us/img329/2343/daituongvantiendungaiz3.jpg

Đại tướng Văn Tiến Dũng (2/5/1917 – 2002), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1954 – 1978), nguyên Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông là vị tướng chiến lược số hai của Việt Nam, được giới quân sự Thế giới đánh giá cao.

Huân chương Sao vàng (1995), Huân chương Hồ Chí Minh (1979), Huân chương Quân công hạng Nhất – Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất – Nhì – Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Ngoài ra ông còn được tặng thưởng Huy hiệu Hồ Chí Minh (1967), Huân chương Tự do hạng Nhất của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Huân chương Ăng-co của Nhà nước Căm-pu-chia.

""Đồng chí Văn Tiến Dũng là một trong những tướng lĩnh tài năng xuất sắc của quân đội ta, là người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh". (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)
Ông được phong Thiếu tướng ngay trong đợt phong Quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (1948), Thượng tướng 1959 – là Thượng tướng thứ hai của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại tướng năm 1974.

Đại tướng Văn Tiến Dũng (Lê Hoài) quê tại xã Cổ Nhuế (xưa gọi là Kẻ Noi), huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ông sinh năm 1917, là năm của Cách mạng tháng Mười Nga.

Nhà nghèo, không ruộng đất, mẹ mất sớm, ông theo cha ra Hà Nội sinh sống. Tại Hà Nội, cha ông làm bảo vệ tại nhà thương Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Việt – Đức).

Đến tuổi đi học, ông trở lại quê theo học tại Đông Ngạc, cách nhà 3 cây số. Sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó cho nên ông rất cố gắng học hành.

Khi 15 tuổi, cha đột ngột qua đời, ông đành phải bỏ học, ở nhà trợ giúp cho anh làm nghề thợ may. Dẫu không đến lớp, nhưng Văn Tiến Dũng vẫn tranh thủ lúc rảnh rỗi, mua sách về tự học thêm các môn Lịch sử, Pháp văn, Văn học...

Năm 1935, nhằm bớt gánh nặng cho anh chị, 17 tuổi, Văn Tiến Dũng xin anh cho ra Hà Nội làm công cho các xưởng dệt Thanh Văn (Hàng Đào), sau chuyển sang xưởng Đức Xương Long, Cự Chung (Hàng Bông). Hàng ngày ông phải làm việc 10 giờ bất kể Chủ nhật, có hôm bị chủ bắt làm tới 12 giờ. Cũng chính trong những ngày tháng gian lao, cực nhọc này, Văn Tiến Dũng được giác ngộ và bước chân vào cuộc đời cách mạng, nhanh chóng trở thành một chiến sĩ xuất sắc.

Tháng 11/1937, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1938, ông được cử làm Bí thư chi bộ ngành thợ dệt Hà Nội. Năm 1939, ông được cử làm Thư ký Ban thường trực Liên đoàn lao động Hà Nội và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội.

Năm 1936, ông tham gia phong trào đấu tranh công khai của công nhân Hà Nội. Tháng 12/1936, ông tham gia tổ chức cuộc bãi công đầu tiên của công nhân xưởng dệt Hà Nội.

Tháng 7/1939, ông bị Thực dân Pháp bắt, nhưng do không có bằng chứng nên chúng buộc phải thả ra sau 3 ngày giam giữ. Hai tháng sau, ông lại bị Thực dân Pháp bắt giam, bị kết án 2 năm tù về tội tàng trữ tài liệu, sách báo, tuyên truyền các khẩu hiệu của Đệ tam Quốc tế và gây rối trị an.

Tháng 11/1939, ông cùng một số chiến sĩ cách mạng bị Pháp đày đi nhà tù Sơn La. Vượt qua mọi gian nguy, hà khắc của nhà tù thực dân, hai năm sau, trên đường bị địch áp giải từ Sơn La về Hà Nội để đưa vào trại tập trung, ông đã nhanh trí trốn thoát.

Ngay sau khi thoát nhà tù Thực dân Pháp, ông tìm mọi cách bắt liên lạc với tổ chức mà đại diện là “Anh to đầu” – người thợ in Nguyễn Văn Đáng, tức Trần Đăng Ninh (sau này là Tổng cục trưởng Tổng cục cung cấp Quân đội Nhân dân Việt Nam), một trong những cán bộ kiệt xuất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ít lâu sau, ông Trần Đăng Ninh bị bắt và Văn Tiến Dũng bị mất liên lạc hoàn toàn với tổ chức.

Không trở về quê vì đang bị Thực dân Pháp truy lùng, ông quyết định rủ Nguyễn Tiến Lãng – Cũng là một chiến sĩ hoạt động tích cực trong thời kỳ 1936 – 1939 (thời kì của Mặt tộc dân chủ), chưa bị lộ tung tích – về Hà Đông để vừa gây dựng phong trào và chờ dịp nối liên lạc với Trung ương.

Cùng với Nguyễn Tiến Lãng, ông sắm vai thợ mộc đi về các làng xóm sửa chữa vặt các đồ gỗ, đồng thời khéo léo tuyên truyền cách mạng. Sau đó ông làm mướn cho một bà cụ chuyên bán hàng ở chợ Nứa (mỗi tháng 6 phiên, làng Đoan Nữ, Mỹ Đức, Hà Tây). Lúc rảnh rỗi, Văn Tiến Dũng rủ con trai bà chủ la cà vào trong xóm kết bạn với trai làng cho đến khi thân thì lựa lời giác ngộ họ. Chẳng bao lâu sau, chi bộ Đảng vùng này được thành lập và lan sang cả làng bên (Vĩnh Lạc).

Trong thời gian này, ông còn giác ngộ được Lý Bảng khiến cho gia đình Lý Bảng trở thành một cơ sở của Việt Minh – tên thật là Nguyễn Viết Bảng, lý trưởng làng Vĩnh Lạc, một người có học thức, yêu thơ văn, yêu nước và căm ghét Thực dân Pháp.

Những hoạt động của ông khi làm thuê cho bà cụ chủ hàng bị để ý bởi mật thám, được sự giúp đỡ của Lý Bảng, ông tạm thời xuống tóc đi tu tại ngôi chùa bỏ hoang Bột Xuyên thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây nhằm che mắt mật thám tiếp tục bám cơ sở để tuyên truyền Cách mạng. Lúc này ông 25 tuổi.

Tháng 3/1943, ông bắt được liên lạc với Đảng và được chỉ định làm Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Hà Đông. Tháng 6/1943, ông được chỉ định tham gia Xứ ủy Bắc Kỳ.

Ngày 8/1/1944, ông làm Bí thư Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh. Tháng 4 /1944, ông được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Sau khi kết thúc một khóa học về Quân sự tại An toàn khu, tháng 8/1944, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ 3.

3 giờ sáng ngày 27/12/1944, ông đã dũng cảm vượt ngục. Chỉ ít ngày sau, Tòa án thực dân ở Bắc Ninh đã kết án ông tử hình vắng .

Tháng 4 năm 1945 trong Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ do Trung ương Đảng triệu tập, ông được cử vào Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ (Bộ tư lệnh miền Bắc Đông Dương) cùng với các ông Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Lê Thanh Nghị, Chu Văn Tấn. Đồng thời được chỉ thị trong thường trực của Ủy ban hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ Trung ương Đảng và phụ trách trực tiếp chấn chỉnh tổ chức Chiến khu Quang Trung gồm các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, thành lập các đơn vị Cứu quốc quân, chuẩn bị và tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám giành chính quyền ở các tỉnh kể trên.

Tháng 8/1945, ông chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa.

Sau cách mạng tháng Tám, tháng 11 năm 1945, ông được giao nhiệm vụ lập Chiến Khu II (gồm 8 tỉnh phía Tây Bắc và Tây Nam Bắc Bộ), làm Chính ủy chiến khu, tham gia Quân ủy Trung ương vừa chỉ đạo một số đơn vị của khu “Nam tiến” đánh Pháp, vừa chỉ đạo các cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp từ Vân Nam (Trung Quốc) và từ Sầm Nưa (Lào) tiến công vào Lai Châu, Sơn La.

Tháng 12/1946, ông là Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam, Phó bí thư Quân ủy Trung ương. Ngày 25 /1/1948, ông được phong quân hàm thiếu tướng.


Từ tháng 10/1949 đến năm 1950, ông là Chính ủy Liên khu 3, kiêm Tư lệnh liên khu, tham gia Thường vụ Khu ủy Khu 3. Tháng 1 năm 1951, sau chiến dịch giải phóng Biên giới Việt-Trung, ông được Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Tổng tư lệnh cử ra thành lập và làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn chủ lực 320 (Đại đoàn Đồng Bằng) một đại đoàn hoạt động trong vùng địch kiểm soát ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.


Tháng 11 năm 1953, sau chiến dịch phản công liên tiếp của quân và dân ta đánh bại cuộc hành quân Hải Âu của quân đội Pháp ra tây nam Ninh Bình kết thúc, ông giữ chức Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và tham gia Tổng quân ủy và là Tổng tham mưu trưởng lâu nhất tính cho đến hiện nay (thay Đại tướng Hoàng Văn Thái).

Năm 1954, ông là Trưởng đoàn đại biểu của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến thi hành Hiệp định Giơ ne vơ.


Từ năm 1954 đến năm 1978, ông là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông đã cùng các ông trong Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo trực tiếp việc tổ chức huấn luyện xây dựng lực lượng vũ trang. Đặc biệt đã xây dựng và chỉ đạo các lực lượng phòng không-không quân, hải quân làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân của ta đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ ra miền Bắc Việt Nam.

Ông, trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch:

Đường 9 Nam Lào (mùa Xuân 1971) đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân Mỹ nhằm phá hủy các đơn vị hậu cần dọc biên giới Việt Lào của miền Bắc chi viện cho miền Nam nhằm cắt đường chiến lược Hồ Chí Minh.

Trị Thiên (3/1972) tiêu diệt sư đoàn quân đội Việt Nam Cộng hòa cùng toàn bộ hệ thống phòng ngự của chúng giải phóng tỉnh Quảng Trị.

Điện Biên Phủ trên không (12/1972) đánh bại cuộc tập kích đường không của Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam (12/1972) đập tan huyền thoại B52 của Đế quốc Mỹ buộc Mỹ phải ngồi vào phòng đám phán tại Paris 1973 và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên (1975), trong chiến dịch này ông thay mặt Bộ Chính trị chỉ đạo chiến dịch (Tư lệnh chiến dịch là Trung tướng Hoàng Minh Thảo, Chính ủy là Đại tá Đặng Vũ Hiệp).

Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh (4/1975), giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Chiến dịch Hồ Chí Minh là một trong những đỉnh cao trong đường binh nghiệp của ông, được giới quân sự trên Thế giới đánh giá cao vì chiến dịch đã giải phóng Sài Gòn trong một thời gian ngắn, trong hiện trạng gần như nguyên vẹn. Trong khi Quân đội Sài Gòn tập trung ở đây một lượng lớn lực lượng cũng như binh khí kĩ thuật. Với kinh nghiệm của một vị tướng đã dạn dày trận mạc, ông đã chỉ đạo những lối đánh táo bạo, thọc sâu, kết hợp vu hồi, đột phá, biết tạo thời cơ, nắm thời cơ, chủ động tiến công tiêu diệt địch, giải phóng Sài Gòn-Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Từ tháng 5/1978 đến năm 1986, ông được Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao nhiệm vụ là, Phó bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương. Tháng 2/1980 đến 1986 ông là Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng.Từ năm 1984 đến 1986 ông là Bí thư Đảng uỷ Quân sự Trung ương.


Ông là tác giả của nhiều tác phẩm về quân sự như "Mấy vấn đề về nghệ thuật quân sự Việt Nam"...


Ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II (2/1951); Ủy viên Trung ương, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị khóa III (3/1960); Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng (3/1972). Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1976), ông được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị.


Ông được bầu làm đại biểu Quốc hội và Ủy viên Hội đồng Quốc phòng từ khóa II (1960) đến khóa VII (1981 – 1986).


Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (3/1982), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được phân công phụ trách chỉ đạo công tác Tổng kết kinh nghiệm chiến tranh và biên soạn lịch sử Quân đội.


Là Tổng Tham mưu trưởng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong một thời gian dài, vị Tổng tham mưu trưởng lâu năm nhất (từ năm 1954 đến năm 1978), tên tuổi của ông luôn gắn liền với những chiến thắng lớn của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong hai cuộc Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp ông là một trong hai vị tướng chiến lược của Cách mạng Việt Nam được cả Thế giới biết đến. Trong kháng chiến chống Pháp, ông được cử làm Tổng tham mưu trưởng thay Đại tướng Hoàng Văn Thái (khi đó là Thiếu tướng) khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra quyết liệt ở giai đoạn cuối. Sau 9 năm kháng chiến trường kì, Quân đội ta đã trưởng thành vượt bậc. Cách tác chiến của ta không còn là ở ‘Tiểu đoàn tập trung, đại đội độc lập’ nữa mà đã có những binh đoàn chủ lực, có khả năng đọ sức với những đơn vị được trang bị hiện đại Thực dân Pháp cũng như tiến hành những chiến dịch Quân sự trên một diện rộng quy mô toàn quốc. Tuy nhiên việc phối hợp tác chiến và đề ra chiến lược trên một quy mô rộng như vậy làm công tác tham mưu trở lên hết sức phức tạp và đặc biệt khi ta quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, một chiến dịch quyết định thành công của công cuộc kháng chiến 9 năm của cả dân tộc – Đại tướng Văn Tiến Dũng được cử làm Tổng tham mưu trưởng trong một hoàn cảnh như thế. Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, mặc dù không trực tiếp ra chiến dịch nhưng ở Căn cứ địa Việt Bắc ông trở thành một trong hai chỉ huy Quân sự cao nhất, tham mưu cho Bộ chính trị mở một loạt các chiến dịch nhằm hỗ trợ cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tuy nhiên, trên Thế giới ông được biết đến nhiều hơn trong cuộc Kháng chiến Chống Mỹ cứu nước, khi trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch lớn như Đường 9 Nam Lào (1971), Trị Thiên (1972), Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (12/1972), Tây Nguyên (3/1975) và đặc biệt Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4/1975). Trong con mắt của giới quân sự phương Tây thì ông luôn được xem như là một người cộng sự ăn ý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tư tưởng và ý đồ quân sự.

Gần 70 năm hoạt động cách mạng liên tục, kiên cường, Đại tướng Văn Tiến Dũng trở thành nhà quân sự chiến lược có uy tín của quân đội ta; là một trong những vị tướng chỉ huy xuất sắc; là người lãnh đạo đầy tinh thần cách mạng tiến công, đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến tranh nhân dân ta qua các cuộc kháng chiến và đối với nền khoa học nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam.

Chính những năm tháng hoạt động cách mạng của ông cùng với các vị tướng tài ba của quân đội ta là những bước thể nghiệm thành công những vấn đề về lý luận quân sự của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện thực tiễn chiến tranh Việt Nam. Từ lý luận đến thực tiễn và từ thực tiễn bổ sung hoàn thiện thêm lý luận đã được Đại tướng thể hiện thành công qua các tác phẩm hồi ký, luận văn quân sự, những bài viết, huấn lệnh, chỉ thị… có giá trị trong quá trình chỉ đạo đấu tranh và tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.



Thượng tướng, Giáo sư Khoa học Quân sự, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Minh Thảo (25/10/192


http://img209.imageshack.us/img209/2213/thuongtuonggshoangminhtzp1.jpg
Thượng tướng, Giáo sư Khoa học Quân sự, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Minh Thảo (25/10/1921-08/09/2008), nguyên Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng Việt Nam), nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quân sự Bộ Quốc phòng, nguyên Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, nguyên Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất và nhiều huân huy chương cao quý khác. Đặc biệt ông được Nhà nước Việt Nam tặng giải thưởng Hồ Chí Minh cho cụm công trình về Nghệ thuật quân sự.

Mọi người đều ấn tượng với hình ảnh của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, nhất là ở cặp lông mày rậm và xếch ngược lên trên rất hiếm gặp.


Thượng tướng Hoàng Minh Thảo tên thật là Tạ Thái An, quê tại xã Bảo Khê, huyện Kim Động (vốn là vùng đất Đăng Châu, Vĩnh Động, Kim Thi xưa). Đây là vùng đất nghèo nhưng giàu truyền thống, là nơi xuất thân của 8 vị tướng lĩnh qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, trong đó có những vị thuộc hàng công thần dựng nước như Đại tướng Nguyễn Quyết, Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên…

Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ ông phải ra vùng Hòn Gai, Quảng Ninh làm nghề thợ may. Và vùng đất Mỏ là nơi chôn nhau cắt rốn của cậu bé Tạ Thái An.

Đầu năm 1930, các đồng chí Quốc dân Đảng tại Quảng Ninh của cha ông bị đàn áp, bắt bớ nhiều. Cha ông đành phải bỏ Hòn Gai đến Lạng Sơn tá túc, còn ông phải theo mẹ về quê.

Để nuôi con, mẹ ông hàng ngày cứ sớm tinh mơ là quảy quang gánh đến các vườn rau, mua cất rồi đem đi các chợ bán vất vả, toan lo kiếm miếng cơm. Được vài năm, khi cha ông đã ổn định, Tạ Thái An lên Thất Khê sống với cha và được đi học lại, 10 tuổi ông mới chính thức đi học lại lớp một.

Sau khi hoàn thành lớp nhất (tương đương với lớp 5 hiện nay), Tạ Thái An được cha gửi xuống Hà Nội ở nhờ một người quen ở 29 Hàng Bồ để học tiếp trung học Trường Thăng Long. Cũng trong quãng thời gian này, trong những lần về Lạng Sơn nghỉ hè, ông giác ngộ cách mạng qua những đợt tham gia buổi tuyên truyền của Đảng.

Năm 1937, Tạ Thái An được xếp vào danh sách cảm tình Đảng tại cơ sở Đảng ở Lạng Sơn và tham gia Đoàn thanh niên dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức. Hồi đó, ông lấy bí danh hoạt động là Tạ Quang, còn cái tên Hoàng Minh Thảo thì mãi đến năm 1945 mới ra đời và gắn bó với ông từ đó cho đến nay.

Năm 1939, ông mới có dịp trở về quê hương lần thứ 2 chịu tang mẹ. Sau khi chu toàn cho mẹ, ông trở lại trường và từ đó cuộc đời ông hoàn toàn được hiến dâng cho cách mạng.

Năm 1941, ông tham gia Việt Minh, và là một trong năm người được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử đi học quân sự ở Liễu Châu, Trung Quốc. Cuối năm 1944, ông tham gia gây dựng cơ sở chính trị và xây dựng lực lượng du kích ở vùng biên giới Lạng Sơn.

Tháng 1/1945, ông tham gia Ban phụ trách công tác biên giới của Tổng bộ Việt Minh, và tháng 5/1945 đảm nhận chức Ủy viên dự khuyết Tỉnh ủy lâm thời Lạng Sơn. Từ tháng 8/1945 đến năm 1949, ông là phái viên của Bộ Quốc phòng ở các tỉnh duyên hải tả ngạn sông Hồng, giữ chức Khu trưởng Chiến khu III – là vị Khu trưởng trẻ tuổi nhất, Phó Tư lệnh Liên khu III. Năm 1948, trong đợt phong quân hàm đầu tiên, ông được phong quân hàm Đại tá của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Cuối năm 1949, ông được đề bạt làm Tư lệnh Liên khu IV. Năm 1950, Đại đoàn 304 Anh hùng (Đoàn Vinh Quang) được thành lập tại Thanh Hóa, ông được cử làm Tư lệnh của Đại đoàn. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đòan do ông chỉ huy là một trong năm Đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch lịch sử này.

Từ năm 1954 đến năm 1966, ông là Hiệu phó, rồi Hiệu trưởng Trường Quân sự trung cao cấp, Phó Giám đốc Học viện Quân chính, Giám đốc Học viện Quân sự.

Từ tháng 11/1966, ông đảm đương trọng trách Phó Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, đến năm 1967 là Tư lệnh. Tháng 8/1974, ông là Phó Tư lệnh Quân khu V.

Đến tháng 3/1975, ông là Tư lệnh chiến dịch giải phóng Tây Nguyên. Một chiến dịch bậc thầy về nghệ thuật nghi binh. Một cú đấm chiến lược làm thay đổi nhanh chóng cục diện chiến trường của mùa Xuân 1975. Và đây cũng là đỉnh cao trong sự nghiệp binh nghiệp của ông.

Sau giải phóng, từ tháng 5/1976 đến năm 1989, ông là Viện trưởng Học viện Quân sự trung cao cấp, Viện trưởng Học viện Quân sự cao cấp. Năm 1987, ông kiêm nhiệm chức Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quân sự Bộ Quốc phòng.

Năm 1990 ông giữ chức Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự, Bộ Quốc phòng. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đồng thời là tác giả của nhiều tác phẩm quân sự, là Ủy viên Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam.

Ông được phong hàm Giáo sư khoa học quân sự năm 1986, danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 1988...

Là một nhà khoa học, một tướng lĩnh tài năng, GS Hoàng Minh Thảo vừa trực tiếp chỉ huy tác chiến, vừa tổng kết khoa học những vấn đề chiến thuật và chiến lược quân sự để viết thành những cuốn sách có giá trị lớn phục vụ trực tiếp cho chiến đấu, góp phần vào thắng lợi trên nhiều chiến trường. Các công trình của ông đã được các nhà xuất bản như Quân đội nhân dân, Chính trị quốc gia in, phát hành và đã trở thành những tài liệu quý giá không chỉ trong nghiên cứu khoa học và nghệ thuật quân sự mà còn là tài liệu phục vụ đào tạo, huấn luyện các sĩ quan, cán bộ lãnh đạo quân đội và các nhà nghiên cứu quân sự.

Cụm công trình về nghệ thuật quân sự Việt Nam gồm 8 cuốn sách (chi tiết xem trang 52) của GS Hoàng Minh Thảo đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ.

Ông viết cuốn: "Học tập khoa học quân sự Xô viết" - cuốn sách đầu tiên trong Cụm công trình này từ khi là Hiệu trưởng Trường Quân sự trung cao, làm công tác huấn luyện quân sự cho cán bộ quân đội. Cuốn sách thứ hai của ông được xuất bản ngay tại chiến trường Tây Nguyên với tựa đề ‘’Tổ tiên ta đánh giặc’’. Cũng ở chiến trường, trong những năm 1973-1974 ông hoàn thành cuốn: "Thất bại của một sức mạnh phi nghĩa". Còn năm cuốn sau ông viết ở Hà Nội, khi là Viện trưởng Học viện Quốc phòng và Viện trưởng Viện Chiến lược quân sự. Cụm công trình này được hoàn thành trong vòng hơn 40 năm, từ năm 1958 đến năm 2001.




Đại tướng Lê Trọng Tấn, Giucov của Việt Nam

http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/Anh%20tin%20tuc/LeTrongTan.jpg

Đại tướng Lê Trọng Tấn (1/10/1914 – 5/12/1986), nguyên Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.


Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng (2007), Huân chương Quân công hạng Nhất hạng Ba, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

"Người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết" (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

‘’Đây có phải là tướng đánh trận giỏi nhất ở Việt Nam không’’ (Chủ tịch Phidel, khi gặp Tướng Lê Trọng Tấn trong lần Chủ tịch ra thăm chiến trường Quảng Trị)

"Trí – Dũng – Nhân – Chính – Liêm – Trung", "Rộng lượng và Hào hiệp", "Tài năng, Cương trực", "Đức độ, Tài ba", "Quyết đoán, Nhân nghĩa", "Người chỉ huy ưu tú, kiên cường, người thủ trưởng có tình thương chân thành, chăm sóc anh em với tình cảm của người anh, người mẹ" (Đây là tất cả những lời tốt đẹp nhất mà các Sĩ quan cao cấp dành cho ông)
Đại tướng Lê Trọng Tấn, tên thận là Lê Trọng Tố, bí danh Ba Long, sinh tại làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây trong một gia đình trí thức có 7 người con (5 trai, 2 gái). Cha ông là một thày đồ nghèo mất khi ông mới lên 7 tuổi, ông trưởng thành nhờ sự tần tảo của người mẹ. Xã Yên Nghĩa là một xã có truyền thống yêu nước cũng như có truyền thống cách mạng, thời kì trước cách mạng, nhân dân xã đã nuôi giấu nhiều nhà cách mạng, mà sau này họ trở thành những lãnh đạo cao cấp của Việt Nam như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Trần Quốc Hoàn...Đây chính là An toàn khu của Xứ ủy Bắc Kỳ thời tiền khởi nghĩa.

Ham mê bóng đá và võ nghệ từ nhỏ, khi là học sinh của trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An ở Hà Nội) ông đã được tuyển vào Câu lạc bộ bóng đá Không quân của Pháp. Sau đó, có một thời gian ông là lính khố đỏ.

Đại tướng Lê Trọng Tấn tham gia Việt Minh từ năm 1944. Lúc đầu ông được phân công làm công tác địch vận tại khu vực Hoàng Mai-Hà Nội. Tháng 3 năm 1945, ông là thành viên trong Ủy ban chuẩn bị khởi nghĩa tỉnh Hà Đông được cử về tuyên truyền, tổ chức và xây dựng Lực lượng vũ trang tại Ứng Hòa, La Khê, La Cả (Hà Đông).

Quê ông có 4.593 nhân khẩu, nạn đói năm 1945 làm chết đói gần một nửa. Ông đã tổ chức phá kho thóc, chia gạo cho nhân dân Do Lộ vượt qua nạn đói khủng khiếp.

Tháng 8 năm 1945, ông tham gia vào Ủy ban khởi nghĩa Hà Đông phụ trách Quân sự - bởi những hiểu biết về quân sự có được trong thời gian ông làm lính khố đỏ, ông nhập ngũ từ thời điểm này. Cách mạng tháng Tám thành công, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong những ngày toàn quốc kháng chiến mùa Đông năm 1946, ông chỉ huy một tiểu đoàn (Tiểu đoàn 60, Trung đoàn 37 ?) chiến đấu tại mặt trận Hà Đông – một cửa ngõ quan trọng phía Tây Thủ đô. Ông tổ chức diệt bốt Đồng Quan và giành thắng lợi trận đầu tiên.Tháng 12-1945, ông được kết nạp vào Đảng. Những trận đánh hay, thắng lợi giòn giã của Hà Đông đều có ông, tổ chức cho từng trận đánh vừa củng cố, vừa xây dựng lực lượng ngày càng vững mạnh.

Sau Tết Đinh Hợi 1947, Bộ Tổng Tham mưu điều một số đơn vị Vệ quốc đoàn ở các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, Nam Định, Hải Phòng… cùng một lực lượng khác thuộc Chiến khu 2 gấp rút lên miền Tây, tăng cường cho khu vực biên giới Việt-Lào để giữ vững hướng chiến lược này. Ngày 27-2-1947, Trung đoàn Tây Tiến (E52) được thành lập gồm 4 tiểu đoàn và ông là một trong những chỉ huy tiểu đoàn cùng với các ông Phùng Thế Tài, Nam Hải, Hoàng Mười…Tiếp theo đó ông lần lượt giữ chức vụ Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng các Trung đoàn Sơn La (E148) rồi Trung đoàn Sơn Tây (E37)

Ngày 23/8/1947, ông được bổ nhiệm giữ chức Khu trưởng Khu XIII khi đang giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sơn Tây. Ngày 25/1/1948, ông được bổ nhiệm giữ chức Khu phó Khu X.

Ngày 16-4-1949, Ông tham gia dự buổi lễ thành lập Đội vũ trang đầu tiên của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào được thành lập tại Liên khu X cùng với ông Cay-xỏn Phôm-vi-hản (Sau này là Chủ tịch Đảng Nhân dân Cách mạng Lào). Đây cũng là ngày truyền thống của Bộ đội Pathét Lào. Ông là Chỉ huy trưởng Liên quân Việt - Lào tổ chức đánh các trận ở Thượng Lào, Hạ Lào, Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, cánh đồng Chum, giải phóng và xây dựng chính quyền cách mạng nhân dân Lào.

Năm 1949, theo quyết định của Bộ Tổng chỉ huy, trung đoàn 209, chủ lực của Liên khu 10 chuyển thành trung đoàn mạnh, trực thuộc Bộ, mang danh hiệu trung đoàn Sông Lô. Lê Trọng Tấn khi đó là Phó tư lệnh Liên khu 10 được bổ nhiệm là Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy

Từ ngày 19/5 đến ngày 18/7 năm 1949, ông tham gia chỉ huy Chiến dịch Sông Thao. Chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vào phòng tuyến sông Thao của Pháp ở khu vực Yên Bái, Lào Cai, nhằm diệt sinh lực, phát động chiến tranh du kích, mở rộng khu căn cứ Tây Bắc. Chiến dịch Sông Thao gồm ba đợt kết thúc thắng lợi đã làm tiêu diệt và bức rút 25 cứ điểm, loại khỏi chiến đấu gần 500 địch, thu hơn 300 súng, phá vỡ một mảng lớn phòng tuyến Sông Thao từ Ba Khe đến Bảo Hà (khoảng 70 km), tạo thế liên hoàn nối liền vùng tự do của ba tỉnh Sơn La, Lào Cai, Yên Bái.

Tháng 11 năm 1949, để mở thông đường liên lạc, vận chuyển từ Việt Bắc xuống Liên khu 3, 4 đồng thời thu hút lực lượng địch đang tập trung càn quét vùng đồng bằng Bắc Bộ, Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy quyết định mở chiến dịch Lê Lợi trên chiến trường tỉnh Hòa Bình. Lê Trọng Tấn được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch đảm nhiệm từ chợ Bờ lên Suối Rút (ông Hoàng Sâm là Tư lệnh chỉ huy từ Hồi Xuân lên Mai Hạ và ông Lê Quang Hòa là Chính ủy). Kết quả Bức tường quân Pháp ngăn chặn giữa Việt Bắc và Liên khu 3, 4 bị đập tan, toàn huyện Mai Châu được giải phóng. Âm mưu lập xứ Mường tự trị bị phá sản.

Năm 1950, Đại đoàn 312 được thành lập, ông là Đại đoàn trưởng đầu tiên khi mới 36 tuổi.

Tháng 9 năm 1950, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định mở Chiến dịch Biên Giới nhằm khai thông đường liên lạc giữa Việt Nam với hệ thống xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, tiến tới giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính. Lê Trọng Tấn được cử làm Phó tư lệnh chiến dịch đồng thời ông là chỉ huy của trận đánh tiêu diệt Binh đoàn cơ động Sác-tông của Pháp.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, Đại đoàn 312 do ông chỉ huy là Đại đoàn đánh trận mở đầu thắng lợi vào cứ điểm Him Lam (Béatrice) (ngày 13 tháng 3 năm 1954) khiến cho thiếu tá Pégrot bị tử thương cùng với toàn bộ sĩ quan trong hầm. Ngày 7/5/1954, trong đợt tiến công cuối cùng, một đơn vị của Trung đoàn 209 thuộc Đại đoàn của ông cùng với một đơn vị thuộc Trung đoàn 174 đã bắt sống tướng Đờ Cát và ban chỉ huy tập đoàn cứ điểm.

Từ tháng 12 năm 1954 đến năm 1960 ông là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân. Đây là thời kì hết sức quan trọng nhằm đào tạo nguồn cán bộ quân sự chi viện cho miền Nam chuẩn bị cho Kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Từ tháng 3 năm 1961 đến năm 1962 ông giữ cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tháng 9 năm 1964, để chuẩn bị đánh Mỹ, cùng với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ông được cử vào Nam nhận nhiệm vụ Phó tư lệnh, Ủy viên Quân ủy Quân giải phóng miền Nam cho đến năm 1969. Ông là một trong các vị tướng tham gia tổ chức Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968.

Từ năm 1970 đến năm 1971, ông là Đặc phái viên Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạch Bộ chỉ huy Quân Giải phóng nhân dân Lào, tham gia chỉ đạo cánh đồng Chum.

Ngày 30-1-1971, Quân đội Mỹ kết hợp với Quân đội Việt Nam Cộng hòa mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, tiến ra đường số 9 và Nam Lào, nhằm đánh chiếm Sê Pôn và chặn phá đường mòn Hồ Chí Minh. Đối phương huy động tới hơn 3 vạn quân chủ lực, 450 xe tăng, 250 khẩu pháo, 700 máy bay, chia làm 3 hướng: cánh quân chủ yếu vượt qua Lao Bảo đến Bản Đông; hai cánh còn lại dùng trực thăng đổ bộ xuống các điểm cao bên đường 9, đồng thời tuyên bố: “Sẽ đón các nhà báo quốc tế tại Sê Pôn”...Quân ủy Trung ương đã chủ động mở Chiến dịch Đường 9 Nam Lào (Mật danh 720) để đối phó, khiến cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa từ thế chủ động sang thế bị động phải rút lui. Ngày 7-3-1971, khi nghe báo cáo “Việt Nam Thông tấn xã báo cho Cục Tuyên huấn là ngụy Sài Gòn hủy bỏ kế hoạch đưa phóng viên báo chí phương Tây đến Sê Pôn...”. ông đã nói ngay: “Địch sắp rút”... Và ngay hôm sau, lời kêu gọi của Đảng ủy và Bộ chỉ huy mặt trận đã được truyền xuống các đơn vị: “Thời cơ chuyển sang tiến công trên toàn mặt trận đã đến! Diệt và bắt sống thật nhiều địch! Phá hủy thật nhiều phương tiện chiến tranh của chúng! Đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719! Bảo vệ vững chắc con đường mang tên Bác, giành toàn thắng cho chiến dịch”...Mười ngày tiếp đó, từ các mũi, hướng, bộ đội dồn dập tấn công. 18-3-1971, đối phương phải bỏ Bản Đông tháo chạy, và cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã bị đập tan!

Năm 1972, ông được cử làm Tư lệnh chiến dịch Quảng Trị với mật danh anh Trọng, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị 1/5/1972.

Năm 1973, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tư lệnh Quân đoàn 1, là Quân đoàn bảo vệ miền Bắc.

Tháng 3 năm 1975, ông làm Tư lệnh chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng. Đánh tan Quân đoàn I, Quân khu I Việt Nam Cộng hòa khi mà tại căn cứ Liên hợp Quân sự Đà Nẵng họ còn tới gần 10 vạn quân cộng với vũ khí hiện đại.

Tháng 4 năm 1975, ông được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân phía Đông (gồm quân đoàn 2, quân đoàn 4, sư đoàn 3) tấn công vào Sài Gòn. Chính trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử bằng óc phán đoán và đầu óc phan tích chiến lược, ông đã đề nghị Quân ủy cho cánh quân của mình nổ súng trước giờ G để cho đối phương không kịp co cụm hay phá hủy cầu. Chính Lữ đoàn xe tăng 203, quân đoàn 2 thuộc cánh quân của ông đã tiến vào dinh Độc Lập đầu tiên.

Từ năm 1976 đến tháng 2 năm 1977 ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Viện trưởng Học viện quân sự cao cấp.

Từ tháng 6 năm 1978 đến năm 1986 ông là Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Từ tháng 12 năm 1978 đến tháng 2 năm 1979 ông chỉ huy các lực lượng vũ trang trong chiến tranh biên giới Tây Nam và đánh quân Khmer Đỏ của Pol Pot ở Campuchia.

Mùng 1 tháng 7 năm 1983, 70 tuổi, ông vẫn chỉ huy trận đánh bảo vệ Biên giới phía Bắc.

Ông là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 4 và 5 (từ 1976 đến 1986), đại biểu Quốc hội khóa VII.

Ông được mệnh danh là tướng trận, tướng tấn công và thường ví ông như nguyên soái Giucov của quân đội Liên Xô. Các nhà khoa học quân sự và quân đội anh em kính nể, học tập ông về tài năng, đức độ và tầm chiến lược, chiến thuật, kiệt xuất của QĐND Việt Nam. Ông đánh giá đúng tình hình, biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng thể hiện tài năng của người chỉ huy trận mạc. Ông là hình mẫu của quân lệnh như sơn, thẳng thắn, nghiêm túc, bao dung, biết đánh, nhưng cũng biết dừng để bảo toàn lực lượng.

Ông đi đến đâu, chỉ huy chiến dịch nào, mũi tiến công vào đâu, tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ của các quân đoàn do ông chỉ huy đều đoàn kết một lòng một dạ tin tưởng, vững tâm vào tài năng, thông minh, sáng tạo, nhanh nhạy, quyết đoán cho từng trận đánh. Kẻ thù nghe tin tướng Ba Long chỉ huy chiến dịch nào đều sợ hãi, hoảng loạn, co cụm, bạc nhược và tê liệt sức chiến đấu, đó là uy quyền của một dũng tướng. Thắng lợi trong những trận đánh, tất yếu có sự hy sinh đổ máu. Ông không bao giờ chấp nhận câu nói: “Trận này ta thiệt hại không đáng kể”. Vì đây là sự hy sinh xương máu của các chiến sĩ.

Cuộc đời ông đã có mặt hầu hết ở các chiến trường nóng bỏng và đã chỉ huy hàng trăm trận đánh trên cả 2 miền Nam - Bắc. Dấu ấn 2 mốc son lịch sử của ông năm 1954, ông là Đại đoàn trưởng F312 đã chỉ huy tham gia chiến dịch Điện Biên lịch sử, đánh phía Đông vào Mường Thanh, bắt sống tướng Đờ Cát. Năm 1975, ông là Tư lệnh trưởng, chỉ huy các binh đoàn đánh phía Đông vào Dinh độc lập, cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn, bắt sống tướng Dương Văn Minh, phải đầu hàng vô điều kiện.

Hai trận đánh, hai mốc son lịch sử đã kết thúc hai cuộc chiến tranh với quân đội viễn chinh Pháp, đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn. Mở ra kỷ nguyên mới, hòa bình, thống nhất độc lập và tự do của dân tộc. Như Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: Hai trận đánh xứng đáng hai lần anh hùng.

Lê Trọng Tấn, một vị tướng tài năng có kinh nghiệm và kiến thức khoa học quân sự. Chiến dịch giải phóng miền Nam, ông đã chỉ huy vài vạn quân với hàng nghìn xe các loại, hợp đồng ba thứ quân và các binh chủng, vượt qua hàng nghìn cây số, vượt 500 con sông, đến đúng giờ quy định của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần quyết định thắng lợi ngày 30-4-1975. Với chiến thuật đánh chắc thắng chắc, bao vây giỏi, chiếm từng phần, đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, trong đánh ra ngoài đánh vào, khống chế điểm mạnh, đánh điểm yếu của địch, diệt từng phần, chớp thời cơ, tiêu diệt toàn bộ sinh lực của địch. Đã đúc kết được 6 nội dung là: Vây lấn, tấn, phá, triệt, diệt có giá trị cho lịch sử khoa học quân sự Việt Nam.

Không thể kể hết công trạng quá dài của ông, người ta chỉ có thể ghi nhận điều cốt yếu: ông luôn được tin cậy để giao nhiệm vụ gầy dựng nền móng ban đầu cho những công việc hệ trọng và mới mẻ. Không chiến trường nào không lưu dấu chân ông từ Bắc-Nam-Trung, không cuộc chiến tranh nào dù chống Pháp, chống Mỹ, chống bọn diệt chủng Pôn Pốt hay bảo vệ biên giới phía bắc, lại không cần đến tài năng quân sự của ông. Từ vai trò Hiệu trưởng Trường Sĩ quan lục quân cho đến Viện trưởng Viện Khoa học quân sự, Giám đốc Học viện chính trị cao cấp Bộ Quốc phòng, ông là người thầy xứng đáng cho những sĩ quan thế hệ sau. Nhưng đáng nói hơn, ông là tướng tư lệnh của tất cả những chiến dịch lớn nhất, quan trọng nhất trên các chiến trường quyết định: Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng-Dầu Tiếng...; chiến dịch Đường 9 Nam Lào, mặt trận Trị Thiên mùa hè 1972; tư lệnh cánh quân duyên hải, khai sinh sau khi Đà Nẵng giải phóng, đến Sài Gòn sớm nhất vào mùa xuân 1975... 70 tuổi Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn khoác áo lính ra trận.

"Anh Tấn ơi! Ngơ ngác khắp quân doanh

Sáng họp... tối đi... sao vội thế anh?

Đại hội chưa xong... anh lên đường

Như xưa kia Bác Hồ điện gấp

Vẫn như ngày nào suốt đời cập rập

"Chơ vơ dưới cửa ba nghìn khách

Lạnh lẽo trong lòng chục vạn binh"

Sáng như trời sang xuân

Tối như mùa đổi tiết...".

(Đại tá NSND Tào Mạt)

Mưu trí nhưng thận trọng, ông luôn tìm ra cách đánh ít tổn thất nhất cho binh sĩ. Với sĩ quan thuộc cấp, ông chân thành thương yêu nhưng không cho phép sai sót. Ông là vị tướng "biết dùng quân, luyện quân, nuôi quân, chỉ huy quân". Là một vị tướng chiến trường nổi tiếng nhưng ông cũng là một người có đầu óc chiến lược. Một vị tướng chiến lược mà vóc người thanh mảnh, nói năng nhỏ nhẹ như thầy giáo làng quê mà ta thường gặp, rất dễ gần gũi.




Trung tướng Cao Văn Khánh, vị tướng tham mưu



http://img529.imageshack.us/img529/7030/trungtuongcaovankhanhrk4.jpg

Trung tướng Cao Văn Khánh (1917-1980), nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1974-1980), nguyên Tham mưu trưởng Mặt trận Nha Trang Khánh Hòa (1946), nguyên Khu trưởng Quân sự Khu 5(1946-1949), nguyên Đại đoàn phó (đầu tiên) Đại đoàn Quân tiên phong.

Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba...


Ông sinh năm 1917 tại Thừa Thiên Huế. Sau khi đỗ Cử nhân Luật, ông không đi theo con đường để trở thành quan mà chọn nghề dạy học. Ông dạy trường tư nhưng vì dạy giỏi cho nên cùng với Hữu Ngọc ông luôn được Trường Quốc học Huế và Trường Đồng Khánh tại Huế mời chấm thi. Tham gia phong trào hướng đạo sinh, Cao Văn Khánh là hướng đạo sinh có tài tổ chức và chỉ huy, là một người yêu nước, ông được cách mạng bắt liên lạc và khuyên học Trường Quân sự (Võ bị) Thanh niên tiền tuyến ở Huế.


Trường Quân sự Thanh niên tiền tuyến Huế tuy do chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim lập ra nhưng được điều hành bởi những nhà trí thức nổi tiếng như Giáo sư Tạ Quang Bửu, Luật sư Phan Anh-cả hai đều giữ những chức vụ chủ chốt trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Cách mạng tháng 8. Học viên của trường hầu hết đều là sinh viên các trường Đại học ở Đông Dương, một số đã là cơ sở của Việt Minh hướng sinh viên theo hướng mặt trận Việt Minh. Nhiều sinh viên xuất thân danh giá như ông Tôn Thất Hoàng con của Thượng thư Tôn Thất Quảng, Đặng Văn Việt (chỉ huy nổi tiếng của Trung đoàn 174, người được mệnh danh là Con hùm xám của Đường số 4 – Đệ tứ quốc lộ đại vương) có bố là Tổng đốc Nghệ An từng ba lần giữ chức thượng thư, ông Võ Sum là con quan án sát Võ Chuẩn, ông Lê Thiệu Huy con trai cụ Lê Thước và là anh em họ với Giáo sư Lê Văn Thiêm, sau sang chiến đấu tại mặt trận Lào làm Tham mưu trưởng liên quân Lào Việt người đã lấy thân mình che đạn cho Hoàng thân Xu-pha-nu-vông khi mặt trận Thà Khẹt bị vỡ và hy sinh trên dòng Mê-kông, ông Hoàng Xuân Bình em ruột Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, ông Nguyễn Thế Lương tức Thiếu tướng Cao Pha là con ruột của một nhà thầu khoán lớn…Nhiều sinh viên của trường đã trở thành những tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam như Thiếu tướng Đào Hữu Liêu-Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kinh tế, Thiếu tướng Đoàn Huyên-Tư lệnh Bộ đội Tên lửa Phòng không, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Thiếu tướng Mai Xuân Tần-Đại đoàn Quân tiên phong, Thiếu tướng Võ Quang Hồ-Cục phó Cục tác chiến, Thiếu tướng Phan Hàm-Bộ tổng Tham mưu…


Cách mạng Tháng 8 năm 1945, ông cùng với các sinh viên của Trường tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Huế dưới sự lãnh đạo của ông Phan Tử Lăng (tốt nghiệp thủ khoa khóa quân sự chính quy đầu tiên của Pháp cùng khóa với Dương Văn Minh-Đại tướng Tổng thống Ngụy miền Nam Việt Nam, chỉ huy vệ binh Trung Kỳ, sau này ông là Đại tá Cục trưởng Cục tác chiến Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam). Sau đó, ông nhập ngũ và tham gia vào Ban chấp hành Giải phóng quân.


Thực dân Pháp trở lại đánh chiếm Nam Bộ (23/9/1946), cùng một đơn vị Giải phóng quân của Thừa Thiên Huế, ông lên đường Nam tiến và được cử làm Tham mưu trưởng mặt trận Nha Trang-Khánh Hòa. Sau đó, ông được cử làm Khu trưởng Quân sự khu 5, Chính ủy là ông Trần Lương (Thượng tướng Trần Nam Trung, Bộ trưởng Quốc phòng Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam). Ngày 19/12/1946, cùng với Tướng Nguyễn Chánh, ông là một trong hai người ra lệnh cho nổ súng ở Đà Nẵng mở đầu cho toàn quốc kháng chiến ở khu 5.


Năm 1949, Đại đoàn Quân tiên phong (Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam) được thành lập do ông Vương Thừa Vũ (sau này là Trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam) làm Đại đoàn trưởng. Cao Văn Khánh được Bộ Tổng tư lệnh điều ra Việt Bắc giữ chức vụ Đại đoàn phó theo sắc lệnh số 57 ngày 18 tháng 6 năm 1949 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông cùng Đại đoàn tham gia nhiều chiến dịch lớn như : 1949-Chiến dịch sông Thao trên cương vị Chỉ huy phó chiến dịch, 1950-Chiến dịch Biên giới…


Năm 1953, Trung ương và Bộ Quốc phòng đã nhìn thấy trước yêu cầu, bộ đội Việt Nam rồi đây sẽ phải tiến công tiêu diệt những tập đoàn cứ điểm mạnh của quân Pháp. Ông cùng với ông Lê Trọng Tấn (sau này là Đại tướng-Tổng tham mưu trưởng), hai người đồng chí gắn bó với nhau trong các chiến dịch sông Thao và Biên Giới, được giao phó trách nhiệm nghiên cứu chuyên đề Tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm.


Đến chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), khi Bộ chỉ huy chiến dịch chuyển từ chiến lược đánh nhanh, giải quyết nhanh sang đánh chắc, tiến chắc, Đại đoàn 308 dưới sự chỉ huy của Đại đoàn phó Cao Văn Khánh được giao nhiệm vụ đặc biệt: Mở đường hành quân sang đất Lào tiến công địch trên tuyến sông Nậm Hu, đánh phủ đầu để làm mất sức những lực lượng quân Pháp rồi đây sẽ tiếp viện cho quân bị vây hãm ở Điện Biên và bịt trước con đường mà theo dự kiến quân Pháp sẽ đồn trú ở lòng chảo Điện Biên thua trận sẽ tháo chạy.


Ngày 22/5/1954, ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc Toản (nữ sinh Đồng Khánh năm xưa, là con gái út quan thượng thư Tôn Thất Đản, em vợ Giáo sư Bác sĩ Đặng Văn Ngữ. Bà Toản sau này là Đại tá Giáo sư Bác sĩ). Lễ cưới của ông bà được tổ chức ngay trong hầm của tướng Đờ-cát và là một trong năm đám cưới được tổ chức tại đây sau ngày chiến thắng.


Trong kháng chiến chống Mỹ, từ năm 1964, Cao Văn Khánh đã có mặt tại Quân khu 4, tuyến đầu của miền Bắc chi viện tiền tuyến lớn. Ông vào chiến trường miền Nam cũng rất sớm. Năm 1966, đã cùng bộ đội đóng tại Đắc Tô (Tây nguyên). Từ năm 1966 đến năm 1974, thời kỳ chiến tranh chống Mỹ ác liệt nhất, ông được cử làm Tư lệnh B5 (Trị Thiên Huế) đồng thời Cao Văn Khánh là thành viên Ban Chỉ huy nhiều chiến dịch quan trọng trên cương vị Phó Tư lệnh như : Khe Sanh (1968), Chiến dịch Đường 9 Nam Lào (1971), Quảng Trị (1972), Tây nguyên (1974).


Sau gần 30 năm trực tiếp chỉ huy quân đội tại các chiến trường, năm 1974, Cao Văn Khánh được điều về làm việc tại cơ quan Bộ Tổng Tham mưu trên cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng. Đây là thời gian khẩn trương chuẩn bị cuộc tổng tiến công và nổi dậy lịch sử năm 1975. Trong mùa xuân đại thắng, cùng với Đại tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng thứ nhất Hoàng Văn Thái, Trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Khánh là một trong những trợ thủ đắc lực của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Ngoài các nhiệm vụ khác, Cao Văn Khánh đảm trách phần việc từng ngày, từng giờ nắm chắc tình hình chiến sự, kịp thời báo cáo với Bộ Chính trị và đích thân Tổng tư lệnh. Chính ông là người truyền đạt chính xác, kịp thời mệnh lệnh của tổng tư lệnh đến các cánh quân, các lực lượng trên chiến trường. Đủ thấy công việc không chỉ vô cùng khẩn trương mà còn đòi hỏi ý thức trách nhiệm cao và một trí tuệ sắc sảo.


Trung tướng Cao Văn Khánh mất đột ngột ở tuổi 63 vào năm 1980 do ung thư gan kịch phát bởi di chứng của chất độc màu da cam mà ông mắc phải trong chuyến đi vào huyện A Lưới Thừa Thiên. Theo lời kể của Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự thì đoàn có 5 người thì có đến 4 người mất vì căn bệnh ung thư gan, người còn lại duy nhất là ông nhưng có con gái út bị di chứng chất độc da cam.


Hai người con trai của tướng Cao Văn Khánh thì một đã hy sinh trong chiến tranh một cũng ra đi ở tuổi ngoài 30 bởi căn bệnh giống hoàn toàn ông-ung thư gan kịch phát bởi di chứng chất độc màu da cam. Vợ ông Đại tá-Giáo sư-Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Toản hiện là Ủy viên thường vụ Hội nạn nhân chất độc màu da cam-một tổ chức mà bà là một trong những người đầu tiên vận động thành lập, một người không ngừng đấu tranh nhằm xoa dịu nỗi đau của nạn nhân chất độc màu da cam và đòi chính quyền Mỹ phải bồi thường cho họ.




Tướng Nguyễn Chánh, hồn nghệ sĩ trong một vị tướng chiến lược

Tướng Nguyễn Chánh (5/8/1914-24/9/1957), nguyên Chủ nhiệm Tổng cục cán bộ, Phó Tổng tham mưu trưởng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5. Hội sử học Việt Nam đã trân trọng đúc tượng đồng ông, hiện đặt tại Viện Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam.


Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì…


Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève) 1954, tướng Pháp Đờ Bô-pho (De Beaufort) nhờ Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp cho ông ta gặp bằng được người chỉ huy đánh bại chiến dịch At-lan-te trên chiến trường Tây Nguyên năm 1953-1954. Tổng tư lệnh đã đồng ý và sắp xếp một cuộc gặp riêng giữa tướng Đờ Bô-pho và tướng Nguyễn Chánh. Đờ Bô-pho đã không tin rằng ngồi trước mặt mình là "một vị tướng đã làm cho tôi điêu đứng trên chiến trường" - như hồi ký sau này ông ta đã thuật lại.


‘’Anh Nguyễn Chánh là một cán bộ lãnh đạo trung kiên của Đảng, một vị tướng tài của quân đội, đã có cống hiến lớn với cách mạng và kháng chiến. Anh đã đi quá sớm, năm 1957, lúc mới 43 tuổi, tài năng đang độ phát triển.’’ (Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp)


“Cuộc đời một con người mới 43 tuổi mà đã để lại một sự nghiệp như vậy, có thể nói là một cuộc đời thật đẹp: đời của một người cộng sản kiên cường, một cán bộ lãnh đạo xuất sắc, một vị tướng có tài và một con người mẫu mực”. (Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp)


“Là một con người thông minh và hiếu học, rất giàu những phẩm chất cao quý của người chiến sĩ cách mạng, mà cũng rất giàu trí tuệ và tài năng. Anh bắt đầu giác ngộ cách mạng và hoạt động cách mạng từ thời rất trẻ, đã vào tù ra tội nhiều lần và suốt đời phấn đấu vì mục tiêu cao cả là độc lập dân tộc và CNXH” (Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng)


Anh Nguyễn Chánh là một con người văn hóa, một nhà văn hoá, theo nghĩa rộng và đẹp nhất của khái niệm đó. Ở anh, không ít đâu, có tinh hoa của văn hoá uyên bác phương Đông và Việt Nam, mà bằng sự thông minh hiếm có, anh đã học được ngay từ nhỏ và gìn giữ, phát triển suốt đời, vận dụng sắc sảo những gì là bản chất tinh tuý nhất, trong công việc cách mạng, trong ứng xử việc lớn việc nhỏ, trong quan hệ với con người. Phần này đến từ gia đình và truyền thống văn hiến quê hương…Anh Nguyễn Chánh đã cho ta hiểu thế nào là một nhà văn hoá, mà chẳng phải “ồn ào văn hoá” chút nào. (Nhà văn Nguyên Ngọc)
Tướng Nguyễn Chánh, tên thật là Nguyễn Hiệp và bà con hàng xóm vẫn thường gọi là Chín do ông là con thứ tám trong nhà, quê tại Thọ Lộc (nay là xã Tịnh Hà) huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi. Quê hương ông đã sinh ra nhiều người có học vị, cử nhân, tú tài nho học. Nhiều nhà yêu nước đứng lên lãnh đạo nhân dân, tổ chức nhiều cuộc bạo động chống thực dân Pháp xâm lược và triều đình phong kiến bán nước. Hàng chục sĩ phu đã bị quân giặc xử chém, bêu đầu, nhưng phong trào vẫn liên tiếp bùng nổ lan rộng. Bản thân quê hương ông cũng là nơi sinh thành của nhiều tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam như : Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Nguyễn Đôn, Trung tướng Phạm Kiệt (anh vợ của Tướng Nguyễn Chánh)…


Ông sinh ra ở một trong mười hai cảnh đẹp của Quảng Ngãi (Hà nhai vãn độ). Nơi đây, ngày xưa sát bờ sông là chợ chiều buôn bán tấp nập, bến Biền ghe thuyền qua lại đông vui, xóm làng sầm uất, kéo dài từ sát bờ sông ra phía Bắc giáp đường lộ từ huyện lỵ Sơn Tịnh đi Đồng Ké. Ở đây đào giếng nơi nào cũng mạch nhiều, nước ngọt lịm nên có câu ca:


“Ai xa nhớ trở về quê

Trước sông, sau chợ, giếng kề một bên”



Nguyễn Chánh là con út trong một gia đình có tám con (tám lần sinh nhưng chỉ còn sáu người - bốn trai, hai gái) gia đình chỉ có cái ao sau nhà là tài sản quý giá nhất. Gia đình ông, nhất là về phía mẹ, là một gia đình có truyền thống văn chương, mẹ ông thường ca ngợi cuộc khởi nghĩa do Lê Trung Đình lãnh đạo. Ông sinh ra trên mãnh đất địa linh nhân kiệt, sản sinh nhiều nhà yêu nước, nhiều nhà thơ phú. Bố ông là cụ Nguyễn Hàm Chức, là một thợ xe nước bậc thầy, dân xe nước ở Sơn Tịnh, Quảng Ngãi không ai không biết tới ông. Bến đò xóm Vạn ở Sơn Tịnh từng có một bờ xe nước mang tên cụ. Gia đình cụ tuy không khá giá nhưng rất có uy tín trong làng, bản thân cụ hồi trẻ đã từng tham gia nghĩa quân Lê Trung Đình chống Pháp. Cụ là cơ sở của nhiều nhà Cách mạng tiền bối như Nguyễn Nghiêm, Phan Thái Ất, Tôn Diêm…và sau cách mạng tháng 8 năm 1945, ngôi nhà tranh của cụ trở thành đại bản doanh của các nhà lãnh đạo khu 5.


Thời thơ ấu, ông là trò giỏi, học rất thông minh, được thầy giáo yêu quý, bạn bè nể phục. Thường thường, tan buổi học, thầy Rôm ra về rồi, ông rủ bạn ở lại ngồi "truy" bài. Ai chưa hiểu ông giảng lại như thầy giáo phụ giảng. Có bạn quá nghèo, ông cho cả vở để viết. Thi sơ học yếu lược (tưong đương lớp 3 tiểu học), vào môn vấn đáp, giám khảo hỏi ông:

- Tại sao người ta lập đền miếu để thờ?

Ông thản nhiên trả lời:

- Thưa thầy, đó là xưa bày, nay làm; chứ con nghĩ không có ma quỷ nào cả.

Thầy giáo ngạc nhiên và cho điểm tốt. Cùng các môn thi khác ông đỗ đầu kỳ thi sơ học yếu lược. Tiếp đó ông còn đi học chữ Hán của thầy Tú Trầm và học phương pháp châm cứu, đốt chữa bại liệt, bốc thuốc bắc của thầy Cừ. Nối nghiệp các bậc ân sư ông đã chữa lành cho nhiều người.

Ngày cụ Phan Chu Trinh về nước, ông thường đi mua sách báo, thơ ca yêu nước rồi tập họp gia đình, chòm xóm lại đọc cho mọi người nghe. Ông đọc các tác phẩm: "Quốc gia huyết lệ", "Nam quốc dân tu trí", "Nữ quốc dân tu trí"...và đọc thơ cách mạng. Từ đó lúc nào ông cũng nói đến độc lập, tự do của dân tộc và căm thù thực dân Pháp xâm lược.

Tướng Nguyễn Chánh sớm giác ngộ và sớm tham gia cách mạng. Năm 1929, khi mới 15 tuổi, qua anh ruột là ông Nguyễn Tải, ông bắt đầu làm cách mạng: liên lạc cho tổ chức Thanh niên Cách mạng ông hội bảo vệ và che giấu cho các đảng viên cộng sản ở khu vực Suối Ngổ. Bước ngoặt quan trọng nhất với Nguyễn Chánh là thời gian ông làm liên lạc cho ông Trương Quang Trọng, nguyên Bí thư Thanh niên cách mạng đồng chí hội năm 1929, trước khi ông Trong hy sinh anh dũng ở nhà ngục Kom Tum. Năm 1930, ông phụ trách tuyên truyền cho Phân khu Bắc Trà (sông Trà Khúc) của Tỉnh ủy Quảng Ngãi.


Sau ngày 1 tháng 5 năm 1931, ông bị bắt trên sông Trà Khúc. Bọn xã giải ngay về huyện để lĩnh thưởng của tri huyện Nguyễn Bính. Trong phòng hỏi cung, ông khai sinh năm 1916 (14 tuổi), trình độ văn hóa sơ học yếu lược, đang lao động chăn trâu ở Suối Ngổ, nơi ông bố vỡ hoang, trồng thuốc lá. Bị bắt phải khai nhận là cộng sản, ông khai đi khai lại cương quyết không nhận kể cả khi tri huyện Nguyễn Bính trực tiếp hỏi cung.

Mấy ngày sau, ông bị chuyển lên nhà lao tỉnh Quảng Ngãi. Tại đây có tên cai ngục Trần Luận khét tiếng tàn ác. Chúng treo Nguyễn Chánh lên đánh liên tục hai ngày liền, ông vẫn không một lời khai báo. Cuối cùng ông bị kết án 2 năm tù vì tội trốn theo cộng sản. Tại nhà lao Quảng Ngãi, tù chung thân và tù có án tử hình bị nhốt chung. Tù nhân ở đây không chỉ chết vè các đòn tra tấn dã man mà còn chết vì ngạt thở, phù thũng. Cơm tù nấu bằng gạo mục có lẫn mọt sâu. Rau muống luộc với giẻ rách. Ngày nào cũng có xe bò kéo xác tù đi chôn ở núi Bút. Trước tình hình đó, ông tham gia đấu tranh, quyết định tuyệt thực để chống chế độ nhà tù hà khắc. Cuối cùng, địch phải nhượng bộ, cải thiện một phần chế độ ăn uống trong tù. Trong thời gian ở tù, ông được các tù nhân hết sức yêu quý bởi học thức và tính cách, đồng thời ông cũng là thầy đốt, thầy châm cứu chữa lành bệnh cho các tù nhân. Trong nhà lao, ông gặp bà Phạm Thị Trinh (là người ông, người vợ của ông. Bà được kết nạp Đảng năm 1930 và là Đại biểu Quốc hội khóa 1). Cùng năm này, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi hết hạn, ra tù, ông vẫn bị o ép, quản thúc tại nhà.


Từ năm 1935 đến năm 1939, ông là Tỉnh ủy viên thường trực Tỉnh ủy Quảng Ngãi phụ trách đấu tranh công khai rồi sau đó là Bí thư liên tỉnh ủy ba tỉnh Quảng Ngãi-Bình Định-Phú Yên (1939). Năm 1939, ông tổ chức đám cưới với bà Phạm Thị Trinh (mặc dù bố mẹ bà Trinh lúc đầu không đồng ý vì chê tướng Nguyễn Chánh nhỏ và đen). Cùng năm này, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ hai và giam vào xà lim số 1, xà lim mà ai vào đó thì hoặc là chết hai là tàn tật. Nhưng ông thà chết khống khai, thực dân Pháp kết án ông tù khổ sai và áp giải lên đồn Ba Tơ. Nhận thấy ông vẫn là mối nguy hiểm ở đây, thực dân Pháp lại đưa ông ra Gi-lăng rồi đưa lên Buôn Ma Thuột. Ở đây ông tham gia ban lãnh đạo đấu tranh chống đàn áp tù nhân, tổ chức nhiều cuộc tuyệt thực, làm reo, náo động cả thị xã. Ngoài ra ông cùng còn mọi người tích cực học lý luận Mác Lê-nin, học đường nối chính sách của Đảng, học quân sự, học văn hóa, học tiếng Pháp và làm thơ. Nguyễn Chánh dạy chữ Hán, dạy làm thơ đường luật và chăm chỉ học tiếng Pháp... Càng đấu tranh, tính cách Nguyễn Chánh càng đậm sắc.

Tháng 9 năm 1944, hết hạn tù, lũ tay sai của thực dân Pháp vẫn còn sợ “thả hổ về rừng” lên đưa ông đi an trí trại căng Phú Bài Thừa Thiên. Đây thực chất là nhà tù trung cổ, làm cho tù nhân chết dần, chết mòn. Căng như ấp chiến lược, xung quanh có hào sâu, dây thép gai, hầm chông, cạm bẫy. Tù nhân bị bắt đi làm xâu, vô cùng vất vả, cực nhọc. Họ vào qua một cái cầu treo. Cầu kéo lên, căng bị cô lập với bên ngoài. Lính gác dày đặc trên các chòi canh, sẵn sàng bắn bất cứ ai mà chúng nghi là chạy trốn. Phải đến lúc Nhật đảo chính, ông mới vượt mọi khổ ải từ Căng An Trí Phú Bài trở về quê hương.



Ngày 11/3/1945, khởi nghĩa Ba Tơ thành công dưới sự chỉ huy trực tiếp của các ông Nguyễn Đôn, Phạm Kiệt (sau này đều là Trung tướng). Chi bộ Đảng của Đội du kích Ba Tơ chủ trương rời bỏ đồn chuyển ra rừng xây dựng căn cứ để phát triển nhanh chóng lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, càng đi vào rừng sâu đội càng gặp nhiều khó khăn, quân số giảm. Trước tình hình này, Nguyễn Chánh được Đảng ủy Tỉnh Quảng Ngãi phân công về lãnh đạo đội du kích Ba Tơ, duy trì và phát triển làm nòng cốt cho mặt trận Việt Minh tại tỉnh Quảng Ngãi, và đây cũng là đội vũ trang đầu tiên, lòng cốt của khu 5 (Nam Trung Bộ) dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời cũng là một trong những tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông đã có chủ trương rất táo bạo, sáng suốt: không để Đội du kích luẩn quẩn trên vùng rừng núi, có chủ trương đưa quân về đồng bằng, dựa vào phong trào quần chúng cách mạng để xây dựng và chiến đấu, đồng thời phát triển dân quân tự vệ và tham gia phát động phong trào cách mạng của quần chúng. Chính do chủ trương đúng đắn, sắc sảo này mà trong một thời gian rất ngắn Đội du kích Ba Tơ từ mười mấy người đã phát triển thành hai đội mạnh (Đại đội Phan Đình Phùng hoạt động ở Nam Quảng Ngãi, Đại đội Hoàng Hoa Thám ở Bắc Quảng Ngãi), cùng với hàng vạn dân quân tự vệ và quần chúng cách mạng, tạo nên cao trào mạnh mẽ.


“Khởi nghĩa Ba Tơ dày chiến tích
Cao muôn trùng điệp gió ngàn ru
Đèo lên mây chạm đầu du kích
Dốc xuống mưa lùa chân chiến khu”

(Đội du kích Ba Tơ-Tướng Nguyễn Chánh)


Ngày 14/8/1945, dưới sự chỉ huy trực tiếp của ông, đội du kích Ba Tơ với khoảng 2000 vệ quốc quân đã trở thành lực lượng nòng cốt hỗ trợ quần chúng tiền hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi từ tay Phát-xít Nhật. Quảng Ngãi là một trong bốn tỉnh giành chính quyền sớm nhất ở nước ta trong Cách mạng tháng 8 (Hải Dương, Hà Giang, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi). Với cương vị là Trưởng ban quân sự, chỉ huy cuộc Tổng khởi nghĩa, Nguyễn Chánh tỏ rõ tài năng chính trị, quân sự song toàn, nhanh nhạy, nắm bắt thời cơ, hành động kiên quyết, kịp thời, đã cùng tập thể đưa cuộc tổng khời nghĩa đến thắng lợi hoàn toàn.


Kháng chiến toàn quốc 1946, ông là Ủy viên trưởng Quốc phòng của Ủy ban kháng chiến Trung Bộ cho đến năm 1950. Phó bí thư khu ủy khu 5 kiêm Chính ủy Liên khu 5 từ năm 1945 đến năm 1948. Liên khu V có vị trí chiến lược quan trọng, đặc biệt có chiến trường Tây Nguyên, khống chế cả khu vực Nam bản đảo Đông Dương và nối liền hành lang huyết mạch với Nam Bộ. Vì vậy, từ ngày đầu toàn quốc kháng chiến, ông Phạm Văn Đồng được Trung ương cử vào làm đại diện của Trung ương và Chính phủ ở đây trực tiếp chỉ đạo chiến trường này. Trong thời kỳ đó, quân và dân liên khu V đã lập được kỳ tích: giữa vòng vây của quân thù, vẫn giữ vững vùng tự do gồm bốn tỉnh đồng bằng ven biển liên hoàn - Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Bên cạnh đó chính quyền cách mạng hoàn chỉnh, có kinh tế tự túc ổn định, văn hóa giáo dục phát triển, hệ thống đường giao thông giữa các tỉnh với Nam Bộ. Nam Trung Bộ thực sự trở thành một hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến. Với cương vị là Chính ủy Bộ Tư lệnh Liên khu V, ông có sự đóng góp quan trọng vào kỳ tích đó.

Từ năm 1949, sau khi ông Phạm Văn Đồng cùng một số lãnh đạo khu 5 khác (Nguyễn Duy Trinh...) được điều ra Việt Bắc, tướng Nguyễn Chánh giữ vai trò chủ chốt ở liên khu 5. Ông lần lượt giữ các chức vụ Phó Bí thư Liên khu ủy V, kiêm Chính ủy Liên khu 5 (1948-1951). Bí thư Liên khu uỷ, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Liên khu 5 (1951-1954).


Năm 1950, ông ra dự Hội nghị tổng kết chiến dịch Biên giới, ở lại tham gia Đảng uỷ các chiến dịch Đường 18 và Trung Du vào đầu năm 1951 với cương vị Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Ông đã dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 (1951) và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Lúc này, Trung ương đã có ý định giữ ông ở lại làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thay cho Đại tướng Nguyễn Chí Thanh để Đại tướng tập trung chuyên về công tác Đảng, nhưng do nhu cầu của chiến trường nên ông lại trở về Liên khu 5.





Tướng Nguyễn Chánh, hồn nghệ sĩ trong một vị tướng chiến lược
ừ năm 1951 trở đi, phong trào cách mạng và kháng chiến ở Liên khu V không ngừng tiếp tục được giữ vững mà còn có những bước phát triển mạnh mẽ và nhanh hơn. Là Bí thư Liên khu ủy, ông tỏ ra là một người lãnh đạo toàn diện. Là Chính ủy kiêm Tư lệnh, ông tỏ ra là một cán bộ có tầm nhìn chiến lược, đồng thời là người chỉ huy kiên quyết có tài năng tổ chức. Vào mấy năm 1951-1952, Liên khu V gặp nhiều vấn đề khó khăn phức tạp: vụ Sơn Hà, nạn đói trầm trọng vì thiên tai, những sai lầm trong chỉ đạo thu thuế nông nghiệp, thực hiện tổng động viên, những vấn đề nẩy sinh trong xây dựng và tác chiến của các lực lượng vũ trang...Nguyễn Chánh một lần nữa lại tỏ rõ tài năng bao quát mọi lĩnh vực, giải quyết dứt điểm từng vấn đề, trên cơ sở một tri thức sâu rộng và đầu óc thực tiễn. Năm 1952, ông ra một quyết định táo bạo là giảm quân của Liên khu V từ 5 vạn xuống còn 3 vạn theo hướng "tinh binh, tinh cán" nhằm nâng cao khả năng chiến đấu của bộ đội Liên khu.


Năm 1953, ông ra Việt Bắc để nhận nhiệm vụ quan trọng trong chiến cục Đông-Xuân-Hè 1953-1954. Nhằm phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, thực hiện nghị quyết của Quân ủy Trung ương, ông đã kiên trì đấu tranh, giải thích với mọi ý kiến trái ngược cũng như các thắc mắt của lãnh đạo cũng như bộ đội và đồng bào khu 5 về chủ trương ‘’không bị động đối phó với địch ở vùng tự do mà chủ động đưa lực lượng chủ lực tập trung đánh lên Tây Nguyên, giành lấy địa bàn chiến lược này, đẩy địch vào thế bị động. Đó là cách tốt nhất để giữ vững vùng tự do đồng bằng’’. Bởi nhiều người lúc đó cho rằng nếu làm vậy sẽ mất vùng tự do và muốn dùng chủ lực để giữ vững đồng bằng. Kết quả : một mảng phòng ngự lớn của địch ở Bắc Tây Nguyên đã bị phá vỡ, tỉnh Kon Tum và vùng cả vùng Bắc Tây Nguyên được giải phóng. Sau đó, nhanh chóng phát triển chiến dịch, tiếp tục tiến xuống phía Nam, đánh quân Pháp trên tuyến đường chiến lược số 19, tiêu diệt hoàn toàn binh đoàn cơ động số 100 là một binh đoàn tinh nhuệ vào bậc nhất của quân viễn chinh Pháp vừa rút từ Triều Tiên về; bao vây Plây-cu, thọc sâu vào cao nguyên Đăk lăk, áp sát Buôn Ma Thuột, tạo điều kiện nối liền với chiến trường Nam Bộ, đồng thời tiến xuống cùng quân và dân địa phương đánh mạnh quân Pháp ở Phú Yên và uy hiếp cả Nha Trang. Ở các chiến trường địch hậu trong Liên khu, thừa thắng quân và dân khu 5 đã tiêu diệt, bức hàng hàng chục đồn bốt, giải phóng những khu vực rộng lớn với hàng chục vạn dân. Phía Nam và Đông-Bắc Campuchia, phối hợp với quân dân bạn giải phóng một vùng rộng lớn. Chiến dịch At-lan-te của địch đã bị đánh bại hoàn toàn, vùng tự do đồng bằng Liên khu 5 được giữ vững và mở rộng. Thế trận ở Tây Nguyên cũng như trên toàn Liên khu lúc này thật đẹp, tạo triển vọng giành thắng lợi to lớn hơn nữa.


Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, năm 1954, ông tập kết ra Bắc lần lượt giữ các chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng rồi Tổng cục trưởng Tổng cục cán bộ Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông là một trong ba người được đề nghị phong quân hàm Thượng tướng đầu tiên khi cấp bậc này được áp dụng. (Hai người còn lại là Đại tướng Hoàng Văn Thái và Thượng tướng Chu Văn Tấn).

Vợ của tướng Nguyễn Chánh là bà Phạm Thị Trinh cũng là một nữ cán bộ cách mạng kiên cường.Là người vợ đồng thời là ông, đồng hương của ông. Bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam 1930-trước tướng Nguyễn Chánh một năm. Giống như ông, bà bị thực dân Pháp bắt giam 2 lần. Lần đầu vào năm 1939 và lần thứ hai vào năm 1941. Sau ngày cách mạng tháng 8 thành công, bà là Đại biểu Quốc hội khóa 1 và 2.


Anh vợ của tướng Nguyễn Chánh là Trung tướng Phạm Kiệt là một trong những người lãnh đạo khởi nghĩa Ba Tơ, ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm cũng từng bị thực dân Pháp bắt và cầm tù tại Ba Tơ, Buôn Ma Thuột…Sau cách mạng tháng 8, ông từng giữ các chức vụ như Cục trưởng Cục Bảo vệ, Tư lệnh của lực lượng Công an vũ trang…Chính ông là người đầu tiên, hiếm hoi trong chiến dịch Điện Biên Phủ đặt nghi vấn về kế hoạch ‘’đánh nhanh thắng nhanh’’ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp dựa trên sự quan sát của ông về cách bố trí pháo binh của ta và quân Pháp ở Điện Biên Phủ.


Con gái ông là Tiến sĩ Khoa học, Viện sĩ Viện hàn lâm chuyên ngành Bách khoa toàn thư Nga, Nguyễn Tuyết Minh. Là người đầu tiên trong nhóm các nhà khoa học Việt Nam được giao nhiệm vụ biên soạn bộ đại từ điển Việt-Nga 3 tập dày 4000 trang.


Sự phát triển tài năng của tướng Nguyễn Chánh có thể nói là trường hợp khá đặc biệt. Ông không hề được đào tạo qua một trường lớp chính quy nào, ngay cả việc học văn hóa ngay từ nhỏ cũng rất hạn chế. Nhưng là một con người thông minh, có ý chí tiến thủ mạnh, khiêm tốn và ham học hỏi. Những bài học cơ bản về khởi nghĩa vũ trang và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính là ông đã học từ nhà lao Buôn Ma Thuột, khi những nhà cách mạng bị giam ở đây đã thực hiện “biến nhà tù của đế quốc thành trường học cách mạng” và sau đó trong thực tiễn đấu tranh, ông đã vận dụng hết sức thành công.


Tướng Nguyễn Chánh là một con người có đức tính đoàn kết, tập hợp được cán bộ và chiến sĩ, quân và dân. Trước hết, vì ông luôn toàn tâm, toàn ý vì sự nghiệp lớn của cách mạng, chí công vô tư, có tâm hồn trong sáng và cuộc sống thanh bạch. Ông là một chiến sĩ cách mạng kiên cường, một chỉ huy nghiêm khắc, quyết đoán nhưng cũng lại là một con người cởi mở, nhân hậu, giản dị, biết linh hoạt trong ứng xử, ăn ở thuỷ chung với ông, đồng bào. Ông được cán bộ, chiến sĩ, được nhân dân Liên khu 5 hồi bấy giờ hết sức quý mến và khâm phục.


Tướng Nguyễn Chánh là một con người tài hoa. Trong tài hùng biện của ông-mà tất cả những người từng tiếp xúc với ông đều nhớ và cảm phục trong tài năng tập hợp, thu phục lòng người, kể cả nhiều loại trí thức “có cỡ” mặc dù ông đi học ở trường chưa hết bậc phổ thông, ngay cả trong cách xử trí các tình huống khác nhau của ông ở cương vị một người lãnh đạo cao và một vị tướng, nhìn kỹ đều có in dấu chất tài hoa đẹp đẽ ấy.


Tướng Nguyễn Chánh cũng là người rất quan tâm đến báo chí, ông thường hay qua chỗ toà soạn báo liên khu 5, thăm hỏi từng phóng viên, phát biểu những ý kiến chỉ đạo chung đối với tờ báo và nhiều khi đối với từng bài báo. Những ý kiến của ông thường rất nghiêm khắc, cặn kẽ, chứng tỏ ông rất coi trọng vai trò của tờ báo và ông đọc báo rất kỹ. Nhưng cách nói của ông, ngay khi phê phán, vẫn rất ân cần. Ông thường không “chụp” ngay vào những chỗ khuyết điểm, sai sót của những người làm báo trên báo, mà bằng các câu hỏi nhẹ nhàng, khêu gợi cho họ tự thấy ra, cuối cùng chính tự họ rút ra bài học, kết luận. Ông đặc biệt quan tâm đến lực lượng trẻ, là học sinh mới vào bộ đội từ hoàn cảnh gia đình cho đến công tác và sinh hoạt. Ông định hướng động viên, tạo điều kiện cho họ học tập. Ở ông có một sự hiểu biết sâu, một sự đồng cảm đối với những người cầm bút và giới văn nghệ sĩ. Ông thường căn dặn họ ‘’Làm văn học là công việc rất cao quý, nói là thiêng liêng cũng không quá đáng, phải học hỏi rất nhiều. Học trường, học thầy, học trong sách. Nhưng có một cái học hết sức quan trọng không thể thiếu, đó là học hỏi từng trải ở đời’’.


Ông cũng là một người rất am hiểu và ham mê các loại hình văn hóa dân tộc như hát Tuồng, hát Bội. Nhà văn Nguyên Ngọc kể lại rằng, có một lần ông xin các nghệ sĩ đoàn Tuống liên khu 5 cho ông một vai diễn. Không được chấp nhận, ông xin một chân cầm chầu trong đêm diễn. Người cầm chầu phải là người rất am tường về tuồng tích của vở diễn, thế mà Nguyễn Chánh, không hiểu ông đã thuộc tuồng từ bao giờ, buổi diễn hôm ấy, tiếng trống chầu của ông đã làm cho không ít nghệ sĩ phải ngỡ ngàng!

Trước khi mất, tướng Nguyễn Chánh giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục cán bộ Quân đội, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông mất trước khi Nhà nước phong quân hàm cho các tướng lĩnh nên chưa một ngày cầu vai trên áo ông được lấp lánh ngôi sao. Ông là một tướng lĩnh cao cấp của Quân đội nhưng không có cấp bậc cụ thể giống như tướng Phùng Chí Kiên. Ông đã đóng góp một cách xuất sắc vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp trên chiến trường Khu V.




Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nhất dạ sinh bá kế

http://img118.imageshack.us/img118/8651/trungtuongdongsinguyenbr5.jpg
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên (sinh 1/3/1923), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị (1986 – 1991), nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, nguyên Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, nguyên Bộ trưởng Bộ Xây dựng, nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Thủ đô, nguyên Tư lệnh Đoàn 559 - Đường Trường Sơn huyền thoại (1967 – 1976), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam (1966) kiêm Chủ nhiệm Hậu cần tiền phương, nguyên Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Trung và Hạ Lào, nguyên Chính ủy Quân khu 4, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Việt Minh kiêm Chỉ huy trưởng Bộ đội Quảng Bình, nguyên Đại Biểu Quốc hội khóa 1.

Huân chương Sao vàng (Huân chương cao quý nhất của nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) , Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và nhiều huân huy chương khác.

Là một trong hai vị tướng được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng (1974) (vị tướng còn lại là Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Ông cũng là vị Tư lệnh lâu năm nhất của Đường Trường Sơn lịch sử từ năm 1967 đến năm 1976 trong đó thời kì từ 1967 đến 1972 là thời kì chống lại chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mĩ lúc ác liệt nhất nhằm đảm bảo chi viện cho miền Nam và 1973 đến 1976 là thời kì kết thúc chiến tranh lúc Đường Trường Sơn phải đảm bảo vận chuyển một khối lượng lớn người và của phục vụ cho trận chiến cuối cùng.. Là một người luôn được giao những nhiệm vụ quan trọng vào những thời điểm quan trọng. Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách Tổng cục Xây dựng Kinh tế Quân đội rồi Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, Bộ trưởng Bộ Xây dựng vào thời điểm Việt Nam sau chiến tranh. Năm 1979, khi chiến tranh Biên giới phía Bắc xảy ra ông được gọi lại Quân đội giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Thủ đô – trái tim thân yêu của Tổ quốc.

Ông là một trong các vị tướng của Việt Nam được cả thế giới biết nhiều đến vì tên tuổi của ông luôn gắn liền với Đường Trường Sơn huyền thoại.

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, tên thật là Nguyễn Văn Đồng (chứ không phải là Nguyễn Sĩ Đồng) hay còn gọi là Nguyễn Hữu Vũ sinh tại xã Quảng Trung, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Sinh ra trong một gia đình khá giả, cho nên lúc còn nhỏ ông được học cả chữ Quốc ngữ, chữ Hán và cả cả tiếng Pháp.

Sáu tuổi bắt đầu đến trường. Bảy tuổi học chữ Hán rồi học chữ quốc ngữ hết bậc tiểu học ở trường huyện, lên tỉnh học tư thục. Là một người có lòng yêu nước, sớm tiếp thu tư tưởng Cách mạng, cho nên khi đang học năm thứ 3 bậc Thành trung tại trường Xanh Ma-ri ở Thị xã Đồng Hới ông bị thực dân Pháp truy nã vì những hoạt động ‘’chống đối’’ và được Xứ ủy Trung Kỳ tổ chức thoát ly sang Thái Lan. Ở Thái Lan, ông tích cực tham gia phong trào của Việt Kiều yêu nước Thái Lào. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939.

Năm 1944, trước tình thế cách mạng mới, phát xít Nhật tấn công Pháp ở Đông Duơng, ông trở về nước hoạt động bí mật phụ trách phủ ủy Quảng Trạch, chủ nhiệm Báo Hồng Lạc và xây dựng Chiến khu Trung Thuần. Trong thời gian này ông còn tham gia huấn luyện quân sự chuẩn bị cho cách mạng tháng tám.

Sau cách mạng tháng tám 1945, ông giữ chức Bí thư huyện ủy Quảng Trạch kiêm Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Quảng Bình. Tháng 6 năm 1946, ông được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa 1 Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Toàn quốc kháng chiến, ông được phân công làm Chính trị viên kiêm Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Quảng Bình. Thời kì này, Quảng Bình là một địa bàn lực lượng của ta tương đối yếu lại xa Trung ương vị trí lại nằm giữa khu 4 và khu 5, thực dân Pháp ra sức bình định. Bên cạnh những hoạt động quân sự, thực dân Pháp còn sử dụng lại chiêu bài Đạo thiên chúa, trước kia người Pháp sử dụng rất thành công khiến triều đình nhà Nguyễn phải đầu hàng dâng đất. Thông qua tên phản động tay sai Cơ đội lốt Đạo thiên chúa, lợi dụng sự cả tin và sự nghèo khó của người dân Quảng Bình (thế mới có câu Theo đạo có gạo mà ăn), thực dân Pháp đã tạo ra được một đội ngũ chỉ điểm, tay sai. Kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Quảng Bình vì thế hết sức khó khăn. Năm 1948, ông đã táo gan chỉ huy vào tận sào huyệt diệt gọn đầu sỏ nhóm phản động này. Sau trận đánh này ông bị thực dân Pháp truy lùng hết sức gắt gao. Ông đổi tên thành Nguyễn Hữu Vũ.

Năm 1950, ông được điều lên Việt Bắc tham gia lớp học trung cao Quân sự rồi được điều về Bộ Tổng tham mưu.

Năm 1953, để phục vụ cho Chiến dịch Đông Xuân (1953-1954) đại đoàn 325 phối hợp với bộ đội Itsala (Nhân dân) Lào tiến công giải phóng đến tận ba biên giới, đây là chiến trường hết sức quan trọng của khu 5 vì nó bảo đảm sự nối liền của ba nước trên bán đảo Đông Dương. Để đảm bảo chắc thắng hướng chiến lược, Tổng tư lệnh cử đoàn phái viên thị sát chiến dịch do ông đại diện Bộ tổng tham mưu phụ trách. Với phong cách sâu sát, cẩn thận của mình, ông đã trực tiếp đến từng tiểu đoàn, đại đội hỏa lực xem xét, chấn chỉnh…Thắng lợi của chiến dịch này góp phần không nhỏ vào Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Sau năm 1954, ông trở về Bộ tổng tham mưu, phụ trách Cục Động viên dân quân. Năm 1961, ông được cử sang Trung Quốc học Trường cao cấp Quân sự Bắc Kinh. Năm 1964 về nước ông được cử giữ chứ Phó Tổng tham mưu trưởng.

Chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất 1965, ông được cử vào làm Quân khu 4 làm Chính ủy Quân khu. Sau đó, được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Trung và Hạ Lào. Cuối năm này ông bị thương và phải về Hà Nội điều trị.

Đầu năm 1966, ông được cử giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Chủ nhiệm Hậu cần tiền phương thực hiện nhiệm vụ chi viện cho các chiến trường của ta và hai nước Lào và Cam-pu-chia ở phạm vi Nam Đông Dương.

Vào thời điểm Mỹ tập trung đánh phá mạnh đường chiến lược Trường Sơn, nhằm cắt đứt con đường huyết mạch Bắc Nam, để đối phó với âm mưu và thủ thuật chiến tranh mới của đế quốc Mỹ bảo đảm liên tục chi viện Bắc Nam, ông được cử vào làm Tư lệnh Đường Trường Sơn cho đến năm 1976. Bộ đội Trường Sơn thời kì này dưới sự lãnh đạo của ông đã làm thất bại âm mưu lập hàng rào điện tử Mắc-ma-na-ma (Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thời kì đó), thất bại chiến tranh phá hoại đồng thời góp phần đánh bại các âm mưu lấn chiếm bảo vệ vững chắc con căn cứ hậu cần tiền phương của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách Tổng cục xây dựng kinh tế tham gia khắc phục hậu quả của chiến tranh phát triển kinh tế đất nước. Tiếp sau đó, ông được chuyển sang ngạch dân sự lần lượt giữ các chức vụ Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải rồi Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Ông có những góp phần không nhỏ trong việc khôi phục và phát triển giao thông vận tải Việt Nam sau thời chiến (đường xá, cầu cống…).

Chiến tranh Biên giới phía Bắc nổ ra, năm 1979, ông được điều lại Quân đội giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Thủ đô. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa IV.

Năm 1982, ông là Ủy viên dự khuyết Bộ chính trị khóa V. Từ năm 1986 đến năm 1991, thời kì Đổi mới, ông là Ủy viên Bộ Chính trị khóa VI, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải.

Năm 1992, ông thôi các chức vụ trong Đảng và Chính phủ và được giao làm Đặc phái viên Chính phủ đặc trách chương trình 327 về Phát triển rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Rồi là Cố vấn đặc biệt của Chính phủ tham gia ban chỉ đạo nhà nước về Đường Trường Sơn thời kì đổi mới.

Đồng Sĩ Nguyên là cái tên của ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho. Là cái tên tạo lên tên tuổi của ông, là cái tên luôn gắn liền với con đường lịch sử Trường Sơn và cũng là cái tên được cả thế giới biết đến. Và họ Đồng cũng được ông cùng con cháu giữ cho đến hiện nay và sau này. Đồng Sĩ Nguyên là biệt hiệu của Tiến sĩ Đệ tam cập giáp Đồng Doãn Giai (năm thi 1763), là một vị quan xuất thân từ quan văn nhưng ngài lại được cử sang giữ chức võ và được điều lên làm Đốc đồng Lạng Sơn (tương đương tỉnh đội trưởng bây giờ) – trấn thủ một địa bàn biên giới quan trọng. Ngài đã anh dũng hy sinh khi đem quân cản bước tiến của quân xâm lược phương Bắc. Tên ngài hiện được khắc trong bia Tiến sĩ ở Văn Miếu và ngài có một Nghè thờ tại quê nhà Hùng Sơn, Đại Từ, Thái Nguyên. Nghè của ngài được đặt trong cụm di tích 27/7 – nơi mà năm 1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định lấy ngày 27/7 là ngày thương binh liệt sĩ. Cụm di tích này gồm nghè thờ ngài, Công chúa họ Ngô người đã có công cùng chồng khai phá ra mảnh đất này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các anh hùng liệt sĩ. Đây cũng là An toàn khu kháng chiến và cũng là nơi mà Bác Hồ làm việc trong một thời gian. Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy cái tên Đồng Sĩ Nguyên đặt tên cho ông để nhắc đến việc chuyển ông từ ‘’nghiệp văn’’ sang ‘’nghiệp võ’’.

Ông là một con người của những ý tưởng không ngừng, người ta gọi ông là ông Nhất dạ sinh bá kế, trong suốt thời kì giặc Mỹ leo thang đánh phá ác liệt Đường Trường Sơn, khi không quân Mỹ phát hiện ra cung đường vận chuyển này để đánh phá thì ông kịp thời chỉ đạo vận chuyển trên cung đường khác hay xây dựng cung đường khác…Đường Trường Sơn thực sự trở thành một ‘’ trận đồ bát quái xuyên rừng rậm’’ (Theo giới truyền thông phương Tây) đối với không quân Mỹ, với hai trục chính là Đường Trường Sơn Đông rồi Đường Trường Sơn Tây và hàng loạt các cung đường trách bom, đường cua, hệ thống đường xương cá…

Điều khiển con đường Trường Sơn với chiều dài 1000 cây số, như một mê cung, cùng với một lượng lớn bộ đội và Thanh niên xung phong (có lúc lên tới trên 10 vạn), trang thiết bị chiến tranh, hệ thống thông tin và ống dẫn dầu Bắc Nam…Đòi hỏi ở vị Tư lệnh một tầm quản lí, chỉ huy, phối hợp tốt và đặc biệt có sự hiểu biết rộng trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt trong thời chiến, trước những thời cơ đòi hỏi người chỉ huy những quyết định chính xác, dứt khoát và nhất quán. Cũng chính về những phẩm chất này cùng những kinh nghiệm về xây dựng đường Trường Sơn trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ mà sau ngày đất nước thống nhất ông lại được cử làm Bộ trưởng Bộ Xây dựng rồi Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải rồi bây giờ khi đã ngoài 80 tuổi là Đặc phái viên của Chính phụ phụ trách Đường Trường Sơn công nghiệp hóa.. Những đóng góp của ông vào việc phục hồi, xây dựng, kiến thiết hệ thống cơ sở hạ tầng nứoc ta sau thời chiến là không nhỏ.

Cũng có người nói ông là người bảo thủ, điều đó không đúng. Là một người quả quyết, và táo bạo dám nghĩ dám làm, ông đưa ra ý kiến, ý tưởng của mình và bảo vệ nó đến cùng bới chúng là đúng đắn. Hãy thử xem những quyết định của ông khi điều hành Đường Trường Sơn, hay những quyết định chính xác khi phá tan hàng rào điện tử Măc-ma-ra-ma, hay sự đúng đắn về việc xây dựng cầu Chương Dương bằng sắt phế liệu, thu gom từ dân, một cây cầu do kĩ sư Việt Nam làm từ khâu thiết kế đến khâu thì công. Một công việc mà lúc ông đề xuất ra nhiều người bảo là viển vông và cho rằng ông bảo thủ cái ý kiến viển vông của mình khi tiến hành xây dựng cầu. Và thực tế hoạt động của cầu Chương Dương cho đến này là một minh chứng hùng hồn về việc ông đúng. Hay trong thời kì đổi mới, Hải Phòng là đơn vị đi đầu ở nước ta trong việc đổi mới những vấn đề như : khóan trong nông nghiệp, bỏ tem phiếu, xóa bỏ chế độ bán gia cầm, lợn cho nông dân…Ông cũng là một trong những lãnh đạo cao cấp đầu tiên ủng hộ, bật đèn xanh cho sự đổi mới này.

Bạn bè và cấp dưới ai cũng thừa nhận Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên là một con người của hành động, con người của thực tiễn, ông ít lí luận, không ưa hình thức và đã nói là làm không thích dài dòng và ông ít nói. Sống theo diễn biến khách quan, hành động phù hợp theo điều kiện chủ quan và hết sức cẩn thận. Nếu bạn muốn tìm một ai đó để trình bày những ý tưởng, ý kiến của mình thì một trong những người thích hợp là Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên. Khi bạn trình bày ông ngồi im lặng lắng nghe không ngắt giữa chừng, không xen ngang. Nếu bạn đúng thì ông sẽ chỉ bảo là ‘’cứ làm đi’’ nếu sai thì sẽ nói cho bạn biết vì sao ông không đồng tình…

Là người có dán người cao to, cái bụng ‘’phệ’’, nhìn khuôn mặt ông nhiều người nghĩ ông lạnh lùng nhưng ông lại là một người rất quan tâm đến người khác. Quan tâm bằng hành động cụ thể chứ không phải lời nói. Quan tâm đến người dân miền núi trên đường Trường Sơn thời chiến thậm chí quả bồ kết cho nữ thanh niên xung phong thời chiến đến việc dựng vợ, gả chồng, cất nhà hay làm kinh tế của cấp dưới trong thời bình, có việc gì họ cũng mời, cũng hỏi ý kiến ông, cũng cho người đón ông. Ông luôn là tư lệnh kính mến của họ trong thời chiến cũng như thời bình.

Hãy nhớ rằng khi ông ‘’khịt, khịt mũi’’ là khi ông muốn nói điều gì đó, hay là lúc ông đưa ra ý kiến của mình.




Trung tướng Đồng Văn Cống, ông tướng bưng biền
http://img114.imageshack.us/img114/2392/trungtuongdongvancongcy5.jpg
Trung tướng Đồng Văn Cống (Bẩy Cống) (tháng 2 năm 1918 - 13h10' ngày 6 tháng 8 năm 2005), nguyên Đại biểu Quốc hội khóa VI, nguyên Phó Tổng thanh tra Quân đội, nguyên quyền Tư lệnh Quân khu 7, nguyên Tư lệnh Quân khu 8, nguyên Tư lệnh Quân khu 9, nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền nam Việt Nam, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu Hữu ngạn.

Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Quân công hạng 1, 2, 3; hai Huân chương Chiến công hạng nhất; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất; Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Trung tướng Đồng Văn Cống sinh tháng 2 năm 1918 tại xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre trong một gia đình nông dân. Ông cố ông quê ở Vinh Phúc, vì điều kiện mưu sinh mà năm Tự Đức thứ 2 đã di cư vào Nam làm thuê kiếm sống. Ông nội và cha ông đa phải đi ở đợ làm tá điền cho địa chủ. Nhờ ông ngoại là một trung nông, nên khi cha mẹ ông lấy nhau, ông ngoại ông đã mua cho ruộng đất, làm lụng đủ ăn. Nhờ là con trai út nên ông được gia đình cho ăn học, chẳng bao lâu bố mẹ ông qua đời lên ông phải nghỉ học ở nhà cày cấy, rồi được giác ngộ tham gia cách mạng năm 1936. Năm 1945, làm Bí thư chi bộ kiêm Tổng ủy viên Việt Minh, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại địa phương.


Tháng 2-1946, giặc Pháp đánh chiếm Bến Tre, ông phụ trách trưởng ban quân sự xã, đã tổ chức tiểu đội du kích đánh địch nhiều trận, chỉ sau 3 tháng đã phát triển lực lượng thành một trung đội với hơn 20 cây súng các loại. Cái tên "bộ đội Tân Hào" ra đời từ đấy. Trong những trận phục kích đánh địch của “bộ đội Tân Hào", chiến thắng nổi tiếng lúc bấy giờ là trận Bàu Dơi, đã được thơ ca dân gian truyền tụng đến tận ngày nay.

Sau hơn một năm chiến đấu trên chiến trường quê hương, với phương châm tự lực cánh sinh, lấy súng giặc trang bị cho lực lượng của ta, Đồng Văn Cống đã đưa đơn vị từ trung đội phát triển thành đại đội, tiểu đoàn, rồi tiến lên trung đoàn. Đơn vị của ông phát triển sớm nhất và mạnh nhất ở tỉnh Bến Tre cũng như toàn khu 9. Sau đó cấp trên giao cho ông đi thuyết phục mọi người tổ chức biên chế các lực lượng quân sự ở Bến Tre thành bảy trung đội, rồi tách bốn trung đội thành lập Chi đội 19 do ông làm Chi đội trưởng, hoạt động ở Bến Tre Gò Công, ba trung đội còn lại thành lập Chi đội 20 hoạt động ở Trà Vinh và Vinh Long. Trung đoàn đầu tiên của Bến Tre do ông làm Trung đoàn trưởng được thành lập vào tháng 7-1947 mang tên trung đoàn 99. Chính đơn vị này về sau đã đóng vai trò nòng cốt của trung đoàn chủ lực khu 8, mang tên trung đoàn Đồng Tháp.

Đầu năm 1951, khi quân của Léon Leroy lấn chiếm và bình định Bến Tre, gây cho ta nhiều tổn thất nghiêm trọng, ông được Bộ tư lệnh khu 8 điều về làm Tỉnh đội trưởng Bến Tre và đã góp phần quan trọng trong việc củng cố, xây dựng lại LLVT của tỉnh lúc bấy giờ.

Tháng 10-1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn do Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau khi hiệp định Genève, được cử vào ban Liên hiệp đình chiến Trung ương, trực tiếp lo việc tập kết của bộ đội Nam Bộ.

Trong kháng chiến chống Pháp ông chỉ huy chiến dịch Bến Tre từ 3 đến 31 tháng 7 năm 1950 rồi chiến dịch Sa Đéc Long Châu Tiền vào tháng 3 năm 1951 mà ông là chỉ huy trưởng cánh Long Châu Tiền.

Trứoc khi tập kết ra Bắc, ông là Tham mưu trưởng kiêm Ủy viên thường vụ trực của Quân khu miền Đông. Đầu năm 1955, được đề bạt Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330, với quân hàm Đại tá (1958).

Tháng 6-1960, được cử đi học ở Học viện Quân sự Nam Kinh (Trung Quốc), đến đầu năm 1962 thì về nước và đã trải qua những chức vụ sau đây: Tư lệnh phó quân khu 3, Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy III, Cục phó Cục tác chiến Bộ Quốc phòng, kiêm Trưởng phòng chuyên trách công tác chi viện cho chiến trường miền Nam: lo tổ chức, củng cố đường 559A, 559B (tức con đường chiến lược Hồ Chí Minh trên Trường Sơn và trên biển). Đường Hồ Chí Minh trên biển được tổ chức hết sức bí mật, ở Bộ Chính trị chỉ có các ông Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ biết, còn ở Bộ Quốc phòng thì có các ông Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dung, Nguyên Văn Vịnh, Trần Văn Trà biết.

Đầu năm 1963, trở về Nam, làm Trưởng ban quân sự khu 9, về sau là Bộ tư lênh quân khu 9 (1964). Năm 1969, Chính phủ CMLTCHMNVN thành lập, ông được cử làm Tư lệnh phó Bộ Tư lệnh miền Nam (1965-1972). Sau hiệp định Paris (1973), làm Tư lệnh khu 8 (Tháng 10-1972 đến 1975). Cuối năm 1974, làm Tư lệnh phó Bộ tư lệnh miền Nam, phụ trách hậu cần, chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Trong kháng chiến chống My ông là chỉ huy hay phó chỉ huy các chiến dịch: xẻo rô phá ấp chiến lược 1963, Chiến dịch Đông Bắc Cam-pu-chia 1971 giải phóng bốn tỉnh biên giới nước bạn, Chen La Hay cuối 1971 tiêu diẹt và làm tan rã lực lượng nòng cốt của quân đội Lon Nol, chiến dịch tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long giữa 1972 mở thông biên giới Tây Nam, chiến dịch Nguyên Huệ 1972-1973 giải phóng Lộc Ninh và biên giới khu 8, chiến dịch Phước Long đợt 2 năm 1974...

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Từ tháng 5-1976 đến tháng 9-1982 là phó tư lệnh Quân khu 7, rồi quyền tư lệnh Quân khu 7 thay cho tướng Trần Văn Trà ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, ông là Tư lệnh tiền phương Quân khu cùng với 2 phó Tư lệnh là Năm Ngà và Năm Thanh đưa một cánh quân sang giúp bạn thoát khỏi nạn diệt chủng.

Về nước ông tiếp tục làm Tư lệnh Quân khu cho đến tháng 10 năm 1981, được điều ra Hà Nội làm Phó tổng thanh tra Quân đội nhân dân Việt Nam với cấp bậc Trung tướng. Tháng 10-1982 được bổ nhiệm là phó tổng thanh tra Quân đội nhân dân VN. Trung tướng Đồng Văn Cống là đại biểu Quốc hội khóa VI.

Hơn 40 năm phục vụ trong LLVT, từ một du kích xã trở thành một sĩ quan cao cấp, Trung tướng Đồng Văn Cống luôn luôn biểu lộ phẩm chất cao đẹp của người lính cách mạng. Ông không chỉ là người có công xây dựng LLVT đầu tiên của tỉnh Bến Tre, mà còn có nhiều đóng góp trong công cuộc tổ chức chi viện cho chiến trường miền Nam cũng như xây dựng Lực lượng vũ trang trong Kháng chiến chống Pháp và Kháng chiến chống Mỹ.

Trung tướng Đồng Văn Cống sinh ra tại Giống Trôm, Bến Tre, đây cũng là quê hương của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Giồng Trôm nói riêng và Bến Tre nói chung vốn là vùng đất "đắc địa", quê hương của rất nhiều danh nhân lịch sử cũng như anh hùng và các nhân vật cách mạng nổi tiếng - một vùng quê có truyền thống yêu nước.

Người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong những năm tháng kháng chiến thường gọi ông là "ông tướng bưng biền" và "ở đâu có ông Cống là ở đó có đánh lớn". Bộ đội Tân Hào hay Bộ đội ông Cống nổi tiếng trong những năm kháng chiến chống Pháp. Tài năng quân sự ở ông là sự kết hợp của nghệ thuật chỉ huy - khả năng tổ chức - sự gan dạ vốn có của một vị tướng trưởng thành từ một "du kích xã". Ông còn là một người hài hước, dí dỏm.

gaconkhoa
10-10-2012, 01:36 PM
thiếu quá trời các vị tướng lừng danh. đại tướng Võ nguyên Giáp đâu? đại tướng lê đức anh đâu? thiếu nhiều lắm...........